Chuùng ta hoïc Phaät phaûi laáy thaønh toái Chaùnh Giaùc
Laøm muïc tieâu hoïc taäp

kinhphatthuyet.vn

THIỀN TÔNG VĨNH GIA TẬP - CHƯƠNG THỨ TÁM - SỰ LÝ KHÔNG HAI

THIỀN TÔNG VĨNH GIA TẬP

Giảng giải: Sa Môn Huyền Giác, Đời Đường
 

CHƯƠNG THỨ TÁM

SỰ LÝ KHÔNG HAI
 

Phàm diệu ngộ thông đường thì núi sông chẳng lấp, mê danh trệ tướng thì mảy lông cũng thành cách ngăn. Nhưng bổn nguyên của vạn pháp từ nơi thật tướng mà ra, trần sa hoặc đến nguồn là chân tông. Cho nên vạn tượng không bờ, Bát Nhã không bến, vì pháp tánh ấy vốn chân, liễu đạt thành trí.

Ví như người biết đường thì muôn dặm có thể đến nơi. Như người chạm vật, thông ngòi thì suốt ngày bị giam trong giới hạn, vì họ chẳng biết vật có cái bờ vô hình, ngòi có cái mé rỗng không cùng tột. Vì vậy học trung đạo mới hy vọng được thật tướng, như người chấp hữu trệ vô thì rốt cuộc quy về biên kiến, vì họ chẳng biết cái tướng có, có chẳng phải có, cái thật không có, chẳng phải không.

Nay đây sắc tượng lăng xăng, xét đến cùng thì nó chẳng phải tướng, âm thanh gầm thét xem cho kỹ thì không tiếng. Mê thì nói có hình có tiếng, ngộ thì biết vắng lặng. Như vậy thì chân đế chẳng trái với sự lý, tức thể của sự lý vốn là chân, diệu trí chẳng khác với liễu tri, tức tánh của liễu tri vốn là rí.

Nhưng mà diệu chỉ bặt lời nhờ văn ngôn thuyên chỉ, chân tông chẳng phải tướng, mượn danh tướng để nêu tông. Như voi chẳng phải là núi tuyết mà mượn núi tuyết để ví cho voi. Đây là lấy cái có thể so ánh với nó, lẽ nào cho rằng núi tuyết là voi sao.

Nay đây pháp chẳng phải thường mà chấp là hữu, nên nhờ phi hữu để phá thường. Tánh chẳng phải đoạn mà chấp là vô, nên dùng phi vô để phá đoạn. Cũng như sạch sẽ chẳng phải là nước tro mà nhờ nước tro nên rửa sạch.

Đây là lấy cái công năng hay rửa, lẽ nào lấy nước tro mà làm sạch sao?

Do đó biết trung đạo chẳng thiên, nhờ nhị biên mà biện chánh, đoạn thường chẳng phải dựa vào vô và hữu để rõ chỗ sai. Hoặc hữu hoặc vô nói đã sai, chẳng phải hữu chẳng phải vô cũng đâu là phải. Tin biết người diệu đạt nguồn huyền chẳng phải hạng thường tình có thể lường được.

Vì sao?

Phàm vọng chẳng phải do ngu sanh ra, chân chẳng phải do trí được, đạt vọng gọi là chân, mê chân gọi là vọng, lẽ nào vọng tùy theo ngu mà mất, chân theo trí trở về, chân vọng chẳng sai, ngu trí tự khác. Hễ muốn thấu tỏ huyền tông trước tiên cần phải xét kỹ về ngu trí phải kheó rõ biết về chân vọng.

Nếu muốn rõ biết về chân vọng lại cần phải nghiên cứu đến danh thể, danh thể nếu phân thì chân vọng tự biện. Chân vọng đã biện thì ngu trí rõ ràng. Vì vậy kẻ ngu không có khả năng liễu trí, người trí có thật chất đạt ngu. Nên biết chẳng thì không do đâu để rõ chân vọng, chẳng phải trí thì đâu thể phân biệt danh thể.

Vì sao?

Hoặc có danh mà không thể, hoặc nhân thể mà lập danh, danh thể xen lẫn thật khó nghiên cứu đến cùng được. Thế nên, thể chẳng phải danh thì chẳng biện, danh chẳng phải thể thì chẳng lập. Nói thể cần phải nhờ đến danh, nói danh cần phải dựa vào thể.

Nay đây ngoài thể lập danh, đó chỉ là danh mà không có thể, lẽ nào lại thích ứn với danh sao?

Ví như không có sừng mà đặt ra danh từ sừng thỏ, đây là có tên gọi mà thật không sừng, lẽ nào có sừng để thích ứng với tên sao?

Không có tên mà lập danh thì danh không thật danh, danh không thật danh thì cái được gọi tên là không vậy. Cái được gọi tên là không vậy. Cái được gọi tên đã không thì cái hay gọi cũng không.

Vì sao?

Vì đặt danh để gọi cái thể của nó, không có thể thì lấy gì để thích ứng với danh. Nói thể là thể cốt để thích ứng với danh, không danh lấy gì để thích ứng với danh, không danh lấy gì để thích ứng với thể, thể không thích ứng thì không phải thể, danh không danh thì chẳng phải danh. Vậy thì đâu riêng gì thể mới nguyên hư mà danh cũng là bản tịch, nhưng mà không có thể thích ứng với danh nguyên do như thế.

Danh thể thích ứng thì gọi là gì?

Thể thì không tự có danh, mượn cái danh khác để gọi ngã thể, danh chẳng phải tự thành lập mà nhờ cái thể khác để đặt ngã danh. Nếu thể chưa có hình thì danh đâu được gọi. Nếu danh chưa lập thì thể đâu được rõ.

Nhưng rõ được thể tuy nhờ danh, chẳng phải vì không có danh mà không có thể. Lập danh vốn cần phải do thể, không thể thì danh đó vốn không. Như vậy thể không phải do danh sanh ra mà danh sanh ra ở nơi thể vậy. Nay đây thể ở trước danh, danh theo sau thể để phân biệt. Nhế thì lập danh để gọi tên cái thể, cho nên biết thể là nguồn của danh thì nguyên do của danh là duyên khởi từ nơi thể, vậy mồi của thể y cứ vào đâu.

Thể không có hình dạng của ngã, nhờ duyên hội hợp mà thành thể. Duyên chẳng phải từ ngã hội, nhân hội thể mà thành duyên.

Nếu thể chưa có hình thì hội ở chỗ nào?

Nếu duyên chưa hội thì thể thành hình ờ nơi đâu?

Thể thành hình là duyên hội để thành hình, duyên hội là thể thành hình để mà hội. Thể thành hình mà hội thì rõ hình không riêng hội, hình không riêng hội thì hội vốn không vậy. Duyên hội mà thành hình thì biết hội không có riêng hình, hội không có riêng hình thì hình vốn không vậy.

Do đó, vạn pháp từ duyên sanh không tự thể. Không tự thể nên gọi là tánh không. Tánh đã không tuy duyên hội mà chẳng phải có, duyên đã hội tuy tánh không mà chẳng phải không. Vì vậy, có của duyên hội, có chẳng phải có. Không của tánh không, không mà chẳng phải không.

Vì sao?

Hội tức tánh không, nên nói chẳng phải có. Không tức duyên hội nên gọi chẳng phải không. Y nói chẳng phải có chẳng phải không, chẳng phải ngoài cái có riêng có một cái không, cũng chẳng phải lìa cái không riêng có một cái có. Như vậy thì rõ pháp chẳng phải có không, nên lấy tên là chẳng phải có chẳng phải không.

Chẳng những chẳng phải có chẳng phải không, đã chẳng phải có không, lại chẳng phải chẳng có không chẳng phải chẳng không. Như vậy đâuriêng gì đường ngôn ngữ dứt mà cũng là chỗ tâm hành diệt vậy.

***