Chuùng ta hoïc Phaät phaûi laáy thaønh toái Chaùnh Giaùc
Laøm muïc tieâu hoïc taäp

kinhphatthuyet.vn

QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT BỔN TÍCH CẢM ỨNG TỤNG GIẢNG GIẢI - CHƯƠNG MỘT - TÁN DƯƠNG HÌNH TƯỢNG Ở ĐẦU SÁCH QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT BỔN TÍCH CẢM ỨNG TỤNG - TẬP BA - LỜI ĐỀ TỪ THỨ HAI Ở ĐẦU SÁCH, LỜI TỰA CỦA BỘ QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT BỔN TÍCH CẢM ỨNG TỤNG

QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT

BỔN TÍCH CẢM ỨNG TỤNG

Giảng giải: Cư Sĩ Hứa Chỉ Tịnh
 

CHƯƠNG MỘT

TÁN DƯƠNG HÌNH TƯỢNG Ở

ĐẦU SÁCH QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT

BỔN TÍCH CẢM ỨNG TỤNG
 

TẬP BA

LỜI ĐỀ TỪ THỨ HAI Ở ĐẦU SÁCH

LỜI TỰA CỦA BỘ QUÁN THẾ ÂM

BỒ TÁT BỔN TÍCH CẢM ỨNG TỤNG
 

Một niệm tâm tánh của chúng ta bất biến nhưng tùy duyên, tùy duyên mà bất biến. Gặp phải duyên mê nhiễm sẽ trái giác, hợp trần, luân hồi trong lục đạo, đến mức cùng cực là đọa mãi trong Địa Ngục A Tỳ, nhưng tâm tánh chẳng giảm.

Gặp duyên ngộ tịnh sẽ bỏ vọng về với chân, tiến nhập, chứng đắc tam thừa, tột bậc là viên thành vô thượng giác đạo, nhưng tâm tánh chẳng tăng. Trong địa vị phàm phu, nếu được nghe danh hiệu của Phật và những ý nghĩa rất sâu trong Kinh thì ngay lúc ấy pháp Bồ Đề thấm nhuần đã được gieo xuống ruộng tám thức.

Tuy thoạt đầu mịt mờ chẳng tự hay biết, nhưng nếu có thể chẳng tự ruồng rẫy, phụ bạc chính mình, cực lực tăng trưởng chủng tử ấy thì sẽ tiếp tục từ mảy giọt trở thành ngòi rãnh, dần dần trở thành Kinh rạch cho đến thành sông to sóng cuộn ngập Trời. 

Cuối cùng ắt sẽ vào được biển Tát Bà Nhã nhất thiết trí, viên mãn Bồ Đề, trở về chỗ không thể được, triệt chứng tánh chân như nhiệm mầu thường trụ bất biến vốn sẵn có trong tâm, từ đấy, lại do Bổn mà thị hiện Tích, dùng Quả để hành Nhân, truyền đăng cho nhau, sáng ngời vô tận.

Há chẳng phải là bậc đại trượng phu vĩ đại ư?

Kinh Pháp Hoa dạy: Chư Phật lưỡng túc tôn, tri pháp thường vô tánh, Phật chủng tùng duyên khởi, thị cố thuyết Nhất Thừa. Chư Phật lưỡng túc tôn, biết pháp thường vô tánh, Phật chủng do duyên khởi, vì thế nói Nhất Thừa, thời và nghĩa của chữ duyên lớn lao thay.

Tôi từ thuở đội mũ liền đọc Kinh Phật. Khi ấy, chỉ muốn cắt xén lấy những ý nghĩa của Kinh Văn để làm tài liệu viết lách. Năm Dân Quốc thứ hai một ngàn chín trăm mười ba mới hướng lòng về Tịnh Độ để mong thoát khỏi nhà lửa này, vào ao báu kia.

Do biết Quán Âm Đại Sĩ chính là bậc hướng dẫn hàng đầu nơi cõi sen, lại hiện thân trong khắp các cõi nước nhiều như vi trần, tùy theo căn cơ lợi ích chúng sanh, lại có nhân duyên sâu đậm nhất với cõi Sa Bà. Do Bồ Tát thị hiện ứng hóa tại Phổ Đà, tỉnh Chiết Giang, nên bèn dấy lên ý niệm muốn đến triều bái, nhưng còn chưa có dịp khởi hành.

Về sau, đọc mấy bài văn của lão Pháp Sư Ấn Quang đăng trên báo đề xướng niệm Phật, khuyến khích, cổ vũ hành nhân tịnh nghiệp hãy dốc lòng thành kính, không ngờ rất hợp với nỗi niềm canh cánh trong lòng tôi, chỉ đúng căn bệnh tôi đang mắc phải căn bệnh ở chỗ hoàn toàn không biết thành kính, nay tự phơi bày ngõ hầu sám hối, bèn một lòng mong được gặp Ngài.

Năm Dân Quốc mười một một ngàn chín trăm hai mươi hai, gói ghém hành trang lên đường, lên núi triều bái, yết kiến, dâng lên thầy bài Lễ Quán Âm Sớ, rất mong được thầy hứa khả.

Ngài chẳng đợi tôi thỉnh cầu, đem tặng bộ Văn Sao mà tôi vốn sẵn lòng ngưỡng mộ. Nếu chẳng phải do túc duyên xui khiến, há lại có chuyện khế hợp như thế ư?

Ngày hôm sau xuống núi, Sư lại ủy thác chuyện soạn Đại Sĩ Tụng, tôi cũng tự quên mình kém hèn, ngây ngô nhận lời. Tu chỉnh, thêm một Thiên Đại Sĩ Tụng vào bộ Phổ Đà Sơn Chí là chuyện thầy đã canh cánh bên lòng mấy năm. Hiềm vì tâm độ sanh tha thiết, người hỏi đạo quá đông, Ngài chưa rảnh rang để cất bút.

Những người cùng học Phật nơi xứ tôi mấy năm trước đã từng yêu cầu soạn văn ca tụng sự cảm ứng của phẩm Phổ Môn, nhưng tôi sợ phải nhọc lòng nên đã viện cớ bệnh tật để thoái thác.

Đến nay, vâng lời thầy dặn dò, giao phó, rốt cuộc dùng văn chương để báo đáp ân đức Đại Sĩ, thỏa lòng mong mỏi của những người cùng hàng, nhân duyên ấy há có thể nghĩ bàn được ư?

Trước hết là biên tập Kinh Văn, đến phần sự tích cảm ứng, tôi phải than thở những sự tích cảm ứng của Quán Thế Âm Bồ Tát mênh mang như khói tỏa trên mặt biển, chẳng biết phải viết từ đâu.

Từ những lời thầy răn như mong được lưu thông trọn pháp giới, khiến cho chúng sanh đều cùng được thấm đượm sự giáo hóa từ ái, như khiến cho chúng sanh trong pháp giới cùng gieo thiện căn, cùng được sanh về Tây Phương mới thôi, như người đọc sẽ do sách này mà hoan hỷ, sẽ hưởng lợi ích sanh thiện, phá ác, thấu hiểu lý, bất giác đột nhiên ngộ hiểu lời thầy khuyên chính là nói về tấm lòng Đại Sĩ.

Công đức của Đại Sĩ, ngay cả Phổ Hiền Bồ Tát vẫn chẳng thể suy lường được một phần bằng sợi lông thì làm sao hạng phàm phu như tôi có thể ca tụng được?

Xó chợ cùng quê, ngu phu, ngu phụ không ai chẳng nghe danh Đại Sĩ, sùng phụng Ngài là bậc từ mẫu, há có thể ca tụng được ư?

Lời ca tụng này, bất quá là nương theo Bổn Tích của Đại Sĩ để răn đời, giáo hóa cõi tục mà thôi. Trong tác phẩm ca tụng này, trước hết là Khế Kinh, kế đến là sự cảm ứng, tức là bổn trước, tích sau. Sự tu chứng được nói đến trong Kinh chính là Bổn của Bổn, còn sự ứng hóa chính là phần Tích của Bổn.

Những sự thị hiện theo từng loại trong phần cảm ứng chính là từ bổn hiện tích. Cứu khổ, ban vui, chính là phần quyền của tích. Hoằng pháp, nhiếp hóa chúng sanh chính là thật trong tích. Đoạn nói về mười tâm trong phần kết luận sau đấy nhằm khuyến khích hành giả hãy từ tích trở về bổn.

Hơn nữa, sự thị hiện trong loại cảm ứng đầu tiên chính là vì chúng ta trái giác hợp trần, làm nô lệ cho tai mắt đã lâu, phàm những gì chúng ta không thể thấy biết thường coi là hư giả, chẳng tin Pháp Thân thường trụ và thật sự có Phật, Bồ Tát, cũng chẳng tin Pháp Thân lưu chuyển, có nhân quả báo ứng.

Nỗi họa của kiến giải cho rằng chết rồi là hết sạch chẳng thể kể xiết được. Vì thế, Đại Sĩ thị hiện để răn nhắc, muốn cho con người đừng cô phụ ơn Phật, đừng cô phụ tánh linh của chính mình.

Kế đó, cứu khổ, ban vui là vì chúng ta bao kiếp mê vọng, dẫu biết tâm là chủ nhân, xả thân như đổi nhà, nhưng ngã kiến vẫn chẳng thể rỗng không được, vẫn cứ hướng ra ngoài rong ruổi tìm cầu, vẫn cứ tạo nghiệp như ôm củi chữa lửa, chỉ càng thêm tự thiêu thân.

Nhất niệm hồi quang, dùng tâm chuyển nghiệp, hình ngay, bóng sẽ thẳng, đấy gọi là tự cầu lắm phước vậy. Kế đến là kẻ Hoằng Pháp, ba cõi không yên ví như nhà lửa, hy sinh những thứ quý đẹp, cam phận tầm thường mà còn tự hào, dùng Phật Pháp để cầu phước báo, dùng minh châu để ném chim sẻ, người trí tiếc nuối lắm thay.

Vì thế, đẩy lùi pháp thế gian, đề cao pháp xuất thế. Nhưng tu hành không gì đơn giản bằng trì danh, thành Phật không chi dễ bằng sanh về Tịnh Độ. Bởi thế, nhiếp hóa chúng sanh, để đến rốt cuộc họ sẽ quy hướng pháp này.

Đấy chính là ý nhỏ nhiệm khuyên dụ dần dần, mà điều ấy cũng nhằm đề cao ý chỉ của chương Quán Âm Viên Thông trong Kinh Lăng Nghiêm: Trước hết là thị hiện, kế đến là cứu khổ, thỏa mãn sở cầu, nhằm khiến cho chúng sanh đều quy hướng đại Niết Bàn. Chánh văn và phần Chú Giải của bộ Quán Thế Âm Bồ Tát Bổn Tích Cảm Ứng Tụng này tổng cộng ba quyển, tôi ghép thêm vào sau sách những đoạn trích dẫn Kinh Văn để làm chứng, tạo thành một quyển nữa.

Soạn xong bản thảo tôi liền trình lên Đại Sư Ấn Quang giám định, được Ngài hứa khả rồi mới dám soạn thành bản hoàn chỉnh. Văn chương tuy kém cỏi, vụng về, nhưng đối với ý nguyện muốn nêu bày sự cảm ứng nơi Bổn và Tích của Đại Sĩ cũng không phải là chẳng giúp được tí nào.

Nguyện Tam Bảo gia bị, ngõ hầu độc giả đều tin tưởng, hành theo, sẽ về thẳng Lạc Bang, chẳng lẩn quẩn trong Tam Giới, triệt chứng tự tánh, thường trụ Tịch Quang.

Kinh Giáo trong Đại Tạng như ngón tay chỉ Mặt Trăng, tấm cám thế tục nào đáng cho người sáng mắt đoái hoài, nhưng thanh luận đã tuyên rõ, Như Lai huyền ký, do lòng ngưỡng mộ Đại Sĩ, nên bất đắc dĩ vẫn chẳng tự xét mà cứ phô trương văn chương phàm tục, tầm thường.

Tôi trước đã có duyên với Đại Sĩ, sau lại được kết duyên với Đại Sư Ấn Quang, rốt cuộc tác phẩm này có lẽ sẽ được Đại Sĩ tạo duyên mà lưu thông phổ biến trong Thiên hạ mai sau, đèn nối tiếp đèn, sáng ngời vô tận, ngõ hầu thỏa nguyện độ sanh của Đại Sĩ, công khăng khăng soạn thuật cũng chẳng uổng phí. Đấy chính là điều tôi vẫn sớm tối thơm thảo cầu chúc vậy.

***