Chuùng ta hoïc Phaät phaûi laáy thaønh toái Chaùnh Giaùc
Laøm muïc tieâu hoïc taäp

kinhphatthuyet.vn

QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT BỔN TÍCH CẢM ỨNG TỤNG GIẢNG GIẢI - CHƯƠNG BA - PHẦN TỤNG VĂN CHÁNH THỨC - TU CHỨNG - TẬP MƯỜI MỘT - HIỆN THẦN THÔNG BIẾN HOÁ

QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT

BỔN TÍCH CẢM ỨNG TỤNG

Giảng giải: Cư Sĩ Hứa Chỉ Tịnh
 

CHƯƠNG BA

PHẦN TỤNG VĂN CHÁNH THỨC

TU CHỨNG
 

TẬP MƯỜI MỘT

HIỆN THẦN THÔNG BIẾN HÓA
 

Bèn có: Nơi tịnh thất bà Trần, trên tòa hiện thân vàng. Trong bình bà cụ Trịnh, tiền chảy thành tượng báu.

Ngăn thuyền nhằm cảnh tỉnh, sen sắt nở tầng tầng. Chặn di dân khỏi biển, chiếc bát vàng chợt nổi.

Giữa sóng Giang Âm, yểng báo chuông trở về. Ni am nước Sở, bồ câu vẽ Thánh tượng.

Giúp núi Điểm Thương đúc tượng, ngòi rãnh chảy đồng lỏng. Thành tựu khuôn Chùa Thiên Trúc, núi Vân Phòng lở đất.

Gương Phong Môn, hiện ảnh Đế Thích, Chư Thiên. Động Triều Âm, hóa hình Diêm La, ngọc nữ.

Trí Cần hiếu dưỡng, thấy cành cành ngồi chật Như Lai. Tâm Đạt lòng thành, mộng lá lá in hình Bồ tát.

Quốc Vương soi gương, hiện bóng núi thần. Phổ Minh đúc chuông, ngân vang huyện bạn.

Thánh tượng Thọ An, từ biển giạt vào. Túi Kinh Đổng Cát, từ nước vọt lên.

Tay nắm xương Lợi Tân Bồ tát, cách đêm vẫn còn. Thân hiện vẻ dung nhan Thiên nữ, trong khoảnh khắc ba phen biến hóa.

Trong lò bà Tôn, vươn đóa sen xanh. Trai phòng ông Mậu, trúc rủ lọng biếc.

U Khê gia bị, thân hóa hiện chuông vàng. Phổ Đà hiển linh, cánh hoa trôi nâng ngón.

Chùa Quang Phước tôn sùng kim thân, vốn trồi lên từ giữa bùn lầy. Thánh tượng đến xứ Hồi Long, đất thù thắng chẳng lo nước lụt.

Phác Lão Chùa Thanh Nguyên, vách hiện hoa sen. Cô gái xứ Bình Tuyền, giường ngăn dương liễu.

Thiện Tài thoát nạn, nhặt áo da dê, đào, táo. Trâu Hạo tụng Kinh, hiện điềm lành Xá Lợi, cành tre. Những chuyện như vậy là do Như Huyễn tam muội, nào có phải hư huyễn, thần kỳ!

Hãy nên biết đấy là Đối trị Tất đàn, tâm bi mẫn thật ban rộng khắp. Đấy chính là sự thị hiện thứ sáu của Đại sĩ vậy.

Theo Biện Chánh Luận, đời Đường, vợ ông Trần Nguyên Phạm là Trương Thị nhất tâm thờ Phật, luôn nguyện tạo tượng Quán Âm để thờ phụng, nhưng thiếu tiền bạc, chẳng thể thỏa nguyện. Trải qua một thời gian sau, chợt có một tượng Quán Âm bằng vàng, cao chừng năm thước hiện trên tòa cao, tỏa ánh sáng nhiều màu chiếu bốn phía, mọi người đều than lạ.

Theo sách Nam Hải Từ Hàng, đời Tống có bà lão họ Trịnh ở Ngô Giang xin tiền nơi chợ, cất trong bình, muốn thuê vẽ Thánh Tượng Quán Âm. Chợt hàng xóm hỏa hạn cháy lan. Bà cụ tìm được cái bình cũ trong đám tro tàn, tiền đã bị nung chảy thành tượng báu Đại sĩ, cao chừng một thước, chuỗi anh lạc, tịnh bình, cành dương đều trọn đủ, khéo léo, tinh xảo tuyệt diệu.

Phổ Đà Chí có nói về nguyên do của cái tên Biển Liên Hoa. Một là dưới thời Hoàng Đế cuối cùng của nhà Hậu Lương, vị Tăng Nhật Bản tên là Huệ Ngạc, lấy tượng Quán Âm từ núi Ngũ Đài đem về nước mình. Đi đến nơi đây, khắp biển nẩy sanh hoa sen sắt, thuyền không thể tiến được.

Hai là khi Tống Thái Tổ sai Vương Quý đến núi lễ Phật, Quý nghĩ: Giữa chốn biển khơi sóng vỗ ào ạt, làm sao có Bồ tát được?

Lúc trở về, liền có hoa sen sắt ngăn thuyền. Ba là tướng nhà Nguyên tên Cáp Lạt Ngạt bái yết động Triều Âm, chẳng thấy gì, bèn giương cung bắn vào động. Quay thuyền trở về, khắp biển chợt trổ đầy hoa sen sắt. Bốn là Minh Thái Tổ sai Thang Hòa đến Phổ Đà, muốn phá Chùa.

Thuyền đậu cạnh núi Chiêu Bảo, chợt mặt biển hiện ra hoa sen sắt, cánh hoa sáng rực như sắc vàng nung, xông chiếu khắp trên dưới, thuyền đi chẳng được phải quay lại. Hơn nữa, Thang Hòa toan dời dân đảo đi nơi khác, thấy trên mặt biển nổi lên một cái bát vàng, nay hãy còn tên núi là Kim Bát Vu Sơn núi bát vàng.

Theo Quái Viên, Chùa Quán Âm ở Giang Âm được trùng tu vào thời Gia Tĩnh Nhà Minh, không có chuông. Một hôm, ngoài sông trôi tấp vào hai cái chuông to, sóng dữ vỗ vào chuông, tiếng vang mấy dặm.

Trên mỗi chuông có một con yểng đậu, kêu liên tục: Chuông trong Chùa Quán Âm. Dân cư bèn đưa một chuông vào Chùa, chuông kia để xuôi theo dòng, chẳng biết về đâu.

Đời Tống, Chùa Thiên Tiên ở Tương Dương, trên vách điện vẽ hình Thiên Thủ Quán Âm. Tương truyền, đầu niên hiệu Vũ Đức đời Đường, vị ni trong Chùa tìm thợ vẽ hình. Có một cặp vợ chồng bế đứa con gái đến xin nhận vẽ, hạn định bảy ngày sẽ vẽ xong cả điện. Đến ngày thứ sáu, bà ni nghi ngờ, đẩy cửa vào, thấy vắng lặng, có hai con bồ câu bay vụt đi. Thánh tượng đã vẽ thành, chỉ có tay kết ấn là chưa vẽ xong.

Chùa Sùng Thánh ở phía Tây đất Điền nằm dưới chân núi Điểm Thương, to lớn, đẹp đẽ, tinh xảo, lợp ngói lưu ly, sàn và lối đi lót toàn bằng đá Điểm Thương. Trong niên hiệu Thiên Bảo, Tăng sĩ nhà Chùa quyên mộ tạo tượng Đại sĩ. Còn chưa đủ số thì ban đêm Trời mưa to, ngòi rãnh đều tuôn ra chất đồng lỏng, bèn khởi công đúc tượng đồng.

Tượng toàn bằng đồng vàng, chỉ có dưới chân là bằng đồng đỏ, ấy là vì đồng không đủ, cho nên Đại sĩ ban thêm. Chỗ đồng đắp thêm vào có kẽ hở to bằng cây kim, ghé tai nghe như có tiếng sóng vỗ oàm ạp trên sông. Ghé miệng hút thì cam lộ đầy miệng. Xem chuyện này trong sách Nhĩ Hải Tùng Đàm và Liễu Nhai Ngoại Biên.

Theo Hồ Nhuyên Tạp Ký, trong niên hiệu Khang Hy đời Thanh, Thích Hối Sơn đúc tượng Đại sĩ bằng đồng ở Chùa Thiên Trúc, muốn làm khuôn đúc tượng, nhưng khó tìm được đất. Chợt gặp cơn mưa lũ, núi bị lở, chỗ núi lở phía sau Bạch Vân Phòng lộ ra toàn là đất sét nhiều đến một trăm thạch, đủ dùng để làm khuôn.

Theo Quái Viên, phía trong cửa Phong Môn thành Tô Châu, có vợ chồng nhà nọ thờ Quán Âm. Nơi tấm gương treo phía sau tượng, chợt hiện bóng hạc bay vờn trong mây. Lại hiện hoa sen nhiều màu và hình tướng Đế Thích, Chư Thiên, cả vạn người đến xem.

Theo Phổ Đà Chí, năm Tuyên Đức thứ hai một ngàn bốn trăm hai mươi bảy đời Minh, trong động Triều Âm hiện tướng Diêm La Thiên Tử, có hai ngọc nữ đứng hầu.

Theo Cao Tăng Truyện tập hai, sư Trí Cần đời Đường tinh thành, dũng mãnh, việc làm đều được ngầm gia hộ. Mẹ Sư bị bệnh gầy mòn, Sư siêng năng vì mẹ niệm Quán Âm, lá cây trong nhà đều hiện hình hóa Phật, cả nhà cùng thấy, bệnh mẹ liền lành.

Theo Linh Cảm Phú, Thích Tâm Đạt trụ tại Phong Tra Am ở Ninh Hải, chí thành lễ Quán Âm, mộng thấy những chiếc lá trên cây trong sân đều hiện hình Quán Âm, đạo tâm càng thiết tha.

Theo Đường Tây Vực Ký, xưa kia, Quốc Vương Tăng Già La ở Nam Hải lấy kính soi mặt, chẳng thấy mặt mình mà thấy trong rừng cây Đa La ở nước Ma Kiệt Đà, có ngọn núi nhỏ, trên núi có tượng Quán Âm Bồ Tát. Do vậy, bèn vẽ hình lại cho người đi tìm, chỉ thấy Cô Sơn là gần giống. Vì thế bèn dựng tinh xá, đây chính là nơi Đại sĩ thị hiện.

Vị Tăng đời Tống là Phổ Minh tu Quán Âm Sám Pháp, được thấy Đại sĩ. Về sau đúc chuông, tiếng chuông vang xa đến bảy mươi dặm.

Theo Hiện Quả Tùy Lục, Trương Đại Trị trấn thủ Sùng Xuyên, có tượng Đại sĩ từ ngoài biển giạt vào, thỉnh tượng đến phía Nam thành, tu bổ ngôi Chùa cổ Thọ An để thờ phụng.

Theo Minh Tường Ký, đời Tấn, Đổng Cát tụng Thủ Lăng Nghiêm Tam Muội Kinh rất tinh tấn, có ai bị bệnh mời ông đến tụng Kinh phần nhiều lành bệnh. Có người cùng chí hướng là Hà Hoảng Giả trúng độc, vội cho mời ông. Đi giữa đường, nước suối tràn dâng, chẳng thể đi được nữa.

Ông Cát nói: Con cứu nạn gấp cho người ta, chẳng tiếc thân mạng, xin Đức Phật và Quán Âm hãy thầm soi xét lòng thành rồi đội túi Kinh lên đầu, nhào xuống nước lội qua. Lẽ ra nước phải lút đầu, nhưng chỉ ngập tới gối. Lên được bờ, túi Kinh rơi mất, vừa buồn vừa hối hận.

Đến nhà ông Hoảng, thấy túi Kinh đặt trên tòa cao, buồn vui xen lẫn, nâng lên xem, Kinh vẫn khô như cũ. Khi ấy, người trong thôn đều tin theo Phật.

Theo Cảm Thông Lục, ông Lưu Tát Ha đời Tấn, cõi đời gọi là Lợi Tân Bồ Tát, mất đi, xương vụn như hạt quỳ, hạt hoa hướng dương. Hễ ai mắc tai chướng liền đến chỗ ông mất tìm xương ông trong cát, sỏi. Hễ tìm được thì cát, không tìm được thì hung. Có người tìm không được, bèn tìm ở phía bên trái tượng Quán Âm, đến tối lạc mất. Sáng hôm sau đi tìm, thấy vẫn ở trên tay của tượng.

Trong Bắc Tề Thư, nơi tiểu truyện của Từ Chi Tài có chép: Vào đầu niên hiệu Vũ Thành, ông Từ thấy trên không trung có vật năm màu, đến gần, vật ấy biến thành một phụ nữ, thân cao mấy trượng, trong khoảng bữa ăn, biến thành Quán Thế Âm Bồ Tát.

Đời Minh, ông Trần Trang Tĩnh thờ Phật, gả con gái cho họ Tôn. Ngày mười chín tháng sáu năm Vạn Lịch thứ năm một ngàn năm trăm bảy mươi bảy, mở hội Quán Âm Trai. Trai hội xong, đốt giấy trong lò. Lúc tro sắp nguội, bèn đặt lò dưới bàn Phật. Từ trong lò chợt vươn lên một cành sen xanh hãy còn ngậm búp, sắc biếc dường như nước đọng. Ba hôm sau, do bị một bà bầu sờ vào, hoa liền bị héo.

Theo Quái Viên, Mậu Nguyên đời Minh là người huyện Thường Thục, trong trai phòng thờ tượng Quán Âm. Trong niên hiệu Vạn Lịch, Mậu Nguyên đi dự lễ Chúc Ly ở Chùa Thiên Trúc trở về, chợt thấy dưới tòa Đại sĩ trổ một búp măng. Trong nửa tháng, măng mọc dài hơn một trượng. Từ chót đầu búp măng lại trổ những giò măng, nhánh dài rũ xuống, những nhánh ngắn cong lên kết thành hình cái lọng biếc, che đầu Đại sĩ.

Đời Minh, Đạo Tràng U Khê tại núi Thiên Thai đúc chuông to. Thị giả Hữu Pháp trì Phổ Môn Phẩm một ngàn biến để cầu gia bị, mộng thấy Bồ tát hóa thân làm hồng chung, kim quang chói ngời. Tụng Kinh đủ số thì chuông đúc xong.

Theo Phổ Đà Chí, tượng Quán Âm Bất Khẳng Khứ cũ nhiều lượt hiện sự thần dị. Viên quan đứng đầu quận bèn thỉnh tượng vào thành để cầu phước cho dân. Chợt có vị Tăng đi đến, xin gỗ quý để khắc. Tượng khắc xong, chẳng biết biến đâu mất!

Đến niên hiệu Gia Định đời Tống, ngẫu nhiên tượng bị sứt mất một ngón tay. Sau này, ở trước động, giữa sóng nổi lên một cánh hoa, nhìn kỹ thì ra là ngón tay bị mất ở ngay trên cánh hoa đó. Tượng đang được thờ hiện thời chính là tượng này.

Theo sách Hải Nam Nhất Chước, vào năm thứ mười mấy thời Đạo Quang Nhà Thanh, Tuần Phủ tỉnh Giang Tô là Lâm Tắc Từ tâu lên Vua: Trong năm Khang Định nguyên niên một ngàn không trăm bốn mươi đời Tống, bị đại hạn, chợt có tượng Quán Âm bằng đồng từ bùn lầy trồi lên, đem thờ trong Chùa Quang Phước ở núi Đặng Úy thuộc Ngô Huyện, Trời liền đổ mưa to. Từ thời Nguyên, Minh trở đi, mỗi lần bị hạn hán hay lụt lội, cầu đảo liền ứng nghiệm ngay.

Năm trước hạn hán, thỉnh tượng nhập thành, nhiều lượt mưa thấm đẫm. Năm nay, vào lúc giao mùa giữa Xuân và Hạ, vừa mới khấn thầm, liền được linh ứng. Và khi bệnh dịch lưu hành, hễ cầu đảo liền ứng nghiệm, ân trạch thấm khắp đất Tam Ngô.

Bài ký Hồi Long Am ở huyện Lâm Xuyên có đoạn: Miền Bắc châu Bác Khê này rộng chưa đầy một dặm, bốn mặt nước bao quanh. Xưa kia có người từ Nghi Hoàng dùng thuyền chở tượng Đại sĩ lên quận. Đến đây, thuyền không tiến được.

Đối trước tượng, bói xem có phải là Đại sĩ muốn lưu lại nơi đây để lập Chùa hay không?

Quả nhiên bói được quẻ tốt, do vậy dựng nhà thờ tượng trong ấy. Đây không phải là vùng đất cao, nhưng khi nước lụt chẳng bao giờ ngập đến nền Chùa, ai nấy đều lấy làm lạ.

Theo Hiện Quả Tùy Lục, Nghê Phác Lão bị bộ Công nhốt lầm vào ngục, ngày đêm đảnh lễ Đại sĩ, lễ sám, Tụng Kinh, đột nhiên trong ngục hiện ra hoa sen đầy vách, không lâu sau được thả ra. Về sau, cụ xuất gia, Trụ Trì Chùa Thanh Nguyên, hiệu là Khiếu Phong Hoà Thượng.

Theo Liễu Nhai Ngoại Biên, một cô gái ở Bình Tuyền, thuở nhỏ vừa thông minh vừa xinh đẹp, dốc lòng thành thờ phụng Quán Âm. Về sau, bị gả cho con nhà họ Vưu, chàng Vưu dáng vẻ thô lậu.

Lúc sắp thành hôn, cô gái tự cảm thương bạc mệnh, cầu khẩn Đại sĩ, nguyện giữ thân thanh tịnh. Đã thành hôn, tuy nằm cùng giường, chàng Vưu thấy một đống dương liễu chặn ngang thân cô gái, rốt cục chẳng thể gần gũi vợ được!

Theo sách Pháp Uyển Châu Lâm, Từ Thiện Tài đã bị giết rồi sống lại, trải qua mấy bữa, hết sức đói lạnh, bèn đi dọc theo khe nước dưới hàng cây, nhặt được một cái áo cừu bằng da dê, một đôi vừa giày vừa vớ, phía trước lại có một bát đựng hơn một thưng vừa đào vừa táo, xanh tươi, đỏ, trắng như vừa mới hái, nên khỏi đói lạnh.

Nếu chẳng phải là thần lực của Đại sĩ, há đang giữa mùa Đông lại nhặt được đào, táo tươi nguyên?

Theo Cư sĩ Truyện, vào đời Tống, lúc Trâu Hạo làm quan ở Tương Dương, mộng thấy Đại sĩ đích thân thuyết pháp cho mình. Do vậy bèn vẽ tượng được thấy trong mộng. Thời Tống Huy Tông, ông Hạo làm quan đến chức Thị Lang. Lúc Thái Kinh nắm quyền, đẩy ông ta đi Thiều Châu.

Ông Hạo thờ phụng tượng vẽ càng thêm kiền thành, quỳ tụng Hoa Nghiêm, có Xá Lợi xuất hiện trong tay áo. Phía sau bức tượng ấy sanh ra ba nhánh trúc, cành che rủ xuống, giống bức vẽ rừng trúc và gộp đá Phổ Đà trong cõi đời chẳng khác gì!

Phàm trong cõi này, hoặc hiện sắc thân, hoặc bày huyễn tướng, lớn thì như Thế giới, núi, sông, nhỏ thì như vi trần, ngọn cỏ, hạt cải, không gì chẳng thuận theo lòng người mong muốn, ứng niệm mà sanh.

Như vậy thì đáng tin tưởng rằng pháp thân Đại sĩ trải bao kiếp vẫn chẳng mòn, luôn thường viên mãn trọn khắp mười phương. Từ đây trở đi là tổng kết về sự thị hiện, răn nhắc khuyên tu, gồm bốn đoạn. Đoạn này nhằm tổng kết đoạn văn nói về sự thị hiện, ca tụng pháp thân thường trụ.

Hoa Nghiêm Kinh: Thập địa Bồ tát tùy tâm sở niệm, năng ư thân trung, hiện hằng hà sa Thế giới vi trần số Phật sát, phục quá thử số vô lượng vô biên. Thập địa Bồ tát tùy theo tâm niệm có thể từ trong thân hiện hình trong các Cõi Phật nhiều bằng số vi trần trong hằng hà sa Thế giới, lại còn hiện hơn số ấy vô lượng vô biên lần.

Tín tâm đã định, xin hãy hiểu nghĩa thêm.

Pháp thân của Chư Phật chính là tự tánh của chúng sanh.

Nước dậy sóng mòi, chỉ là tùy duyên. Vàng và nhẫn vốn chẳng biến đổi.

Nổi chìm ngũ trược, thân thanh tịnh chẳng nhơ. Đọa lạc tam đồ, đức trang nghiêm vẫn đủ.

Uổng công nhận bọt nước, bỏ bê biển cả, luyến mến tứ đại giả danh. Lầm tớ là chủ, theo đuôi duyên ảnh lục trần. Chạy theo dục trong khoảnh khắc, chịu đắng cay trải kiếp, chẳng đáng thương lắm thay!

Đoạn này ca tụng Phật tánh của chúng sanh và Phật tánh của Đại sĩ chẳng hai, chẳng khác, phá trừ tà kiến đoạn diệt.

Phẩm Minh Pháp của Kinh Hoa Nghiêm có câu: Nhất thiết chúng sanh, dữ chư Như Lai đồng nhất thể tánh. Hết thảy chúng sanh và các Như Lai có cùng một thể tánh.

Khởi Tín Luận: Như nước biển và sóng, chẳng một, chẳng khác. Sóng do gió động, chứ tánh nước chẳng động. Nếu như lúc gió lặng thì sóng động liền diệt, chứ tánh nước chẳng diệt. Chúng sanh cũng vậy, tâm thanh tịnh nơi tự tánh do gió vô minh động nên khởi lên sóng thức.

Ba chuyện như vậy chẳng một, chẳng khác. Nhưng tịnh tâm nơi tánh là cái gốc của thức dao động. Khi vô minh diệt, sự lay động của thức bị diệt theo, nhưng trí tánh chẳng hoại.

Mật Nghiêm Kinh: Như Lai thanh tịnh tạng, thế gian A lại da, như kim dữ chỉ hoàn, triển chuyển vô sai biệt. Thanh tịnh tạng của Như Lai và A lại da thức của thế gian, giống như vàng và nhẫn, xoay chuyển không sai khác.

Khởi Tín Luận: Tâm tánh vốn là thanh tịnh, tuy có nhiễm tâm, nhưng thường sáng sạch chẳng biến đổi.

Sách Đại Thừa Chỉ Quán cũng viết: Từ vô thủy đến nay, tuy bị pháp nhơ bẩn là vô minh che đậy, nhưng tánh tịnh chẳng đổi, vì nhiễm pháp vốn lìa tâm tướng.

Sách còn viết: Khi tâm này bị nhơ, vẫn trọn đủ hai tánh phước và trí, chẳng khác gì Phật. Chỉ vì bị nhiễm pháp che lấp nên hai thứ tánh phước và trí chẳng thể hiện lộ.

Lăng Nghiêm Kinh: Thí như trừng thanh bách Thiên đại hải khí chi, duy nhận nhất phù âu thể, mục vi toàn triều, cùng tận doanh bột. Ví như vứt bỏ trăm ngàn biển cả trong lặng, chỉ chấp nhận một bọt nước coi như là toàn bộ biển khơi, tột cùng các đại dương.

Duy Ma Kinh: tứ đại hợp cố, giả danh vi thân. Tứ đại vô chủ, thân diệc vô ngã. Do tứ đại hợp lại nên giả gọi là thân, tứ đại không có chủ, thân cũng không có ngã.

Kinh Lăng Nghiêm có thí dụ nhận giặc làm con, nhà Thiền bảo là coi tớ là chủ, đều nhằm tỷ dụ sự lầm tưởng ý thức là chân tâm vậy!

Viên Giác Kinh: Vọng nhận tứ đại vi tự thân tướng, lục trần duyên ảnh vi tự tâm tướng. Lầm tưởng tứ đại là tướng của tự thân, coi hình bóng của sáu trần duyên là tướng của tự tâm.

May gặp được bậc Đại Thánh, là bậc Đạo Sư trong biển trí, hằng thuận chúng sanh, làm từ phụ trong nhà lửa. Muốn cầu giải thoát thì Ngài đáng làm bậc quy y, huống là những điều cứu khổ ban vui vụn vặt.

Ngài có thể làm chỗ nương tựa để chấn động kẻ mù, khơi gợi kẻ điếc, noi gương sáng cho thế hệ sau dõi theo lớp trước. Đoạn này nối tiếp ý Tâm tánh bất diệt trong đoạn văn trên, khuyên người hãy quy y Đại sĩ. Nêu chung lòng bi cứu khổ, lòng từ ban vui của Đại sĩ để khuyến khích hành giả.

Trong phần Kinh Văn của Kinh Hoa Nghiêm kể về sự tham học Đại sĩ của Thiện Tài Đồng Tử có câu: Thiện tri thức giả, trí hải Đạo Sư. Thiện tri thức là bậc dẫn đường trong biển trí.

Phẩm Phổ Hiền Hạnh Nguyện có câu: Cửu giả hằng thuận chúng sanh. Điều thứ chín là hằng thuận chúng sanh.

Xét ra thì huyễn thân không có thể, trọn chẳng có gì dính dáng sanh tử.

Cảnh vọng toàn là không, ghétyêu lấy đâu nương gởi?

Chẳng biết thân an thì đạo mới tốt đẹp, duyên đủ rồi mới hòng chứng quả.

Trong lời phát nguyện của Ngài Vĩnh Gia còn mong gìn giữ thân tâm. Trong bài lễ văn của Ngài Đại Huệ, cũng cầu An Lạc. Chưa từng thật chứng, đừng chuộng bàn xuông. Chỉ vững tín tâm, quyết không luống uổng. Đây là vì kẻ ham chuộng Khẩu Đầu Thiền mà đâm một mũi kim, khuyên người ta hãy chết lòng noi theo thực tiễn, quy y Đại sĩ.

Trong Tiểu Chỉ Quán có đoạn:

Kinh dạy: Thân an tắc đạo long. Thân an ắt đạo thịnh.

Niết Bàn Kinh: Ca Diếp Bồ tát ngôn: Nhược lợi căn giả, hà bất hiện tại nhập Niết Bàn da?

Phật ngôn: Thị nhân tứ đại doanh liệt, bất năng tu đạo. Hoặc tứ đại khang kiện, vô hữu phòng xá, ẩm thực, y phục, chúng duyên bất cụ, bất đắc Niết Bàn. Hữu nhất Tỳ kheo tu đạo, bất đắc quả. Ngã cáo A Nan, dữ dĩ phòng xá, cụ chư sở tu, tức đắc Tu đà hoàn quả.

Ca Diếp Bồ tát nói: Nếu là kẻ lợi căn, sao hiện thời chẳng nhập Niết Bàn?

Phật dạy: Người ấy tứ đại suy yếu, chẳng thể tu đạo. Hoặc là tứ đại mạnh khỏe, nhưng không có nhà cửa, thức ăn, y phục, chẳng đầy đủ các duyên nên chẳng đắc Niết Bàn. Có một Tỳ kheo tu đạo, chẳng đắc quả. Ta bảo A Nan cấp nhà cửa cho người ấy, lo đủ những thứ cần dùng, người ấy liền đắc quả Tu đà hoàn.

Trong bài Phát Nguyện Văn của Ngài Vĩnh Gia có đoạn: Trước khi đắc đạo, thân không bệnh bất ngờ, chẳng bị chết yểu. Đúng khi hết tuổi thọ thì thân không đau khổ, tâm chẳng tán loạn.

Lại còn có đoạn: Ở nơi an ổn, không có các chướng nạn, trộm cắp, giặc cướp, phép vua, lao ngục, gông cùm xiềng xích, đao, thương, tên, giáo, thú dữ, độc trùng, té núi, chết chìm, lửa vây, gió cuốn, nhà sụp, kèo mục. Phàm hết thảy các tai nạn đều chẳng phải hứng chịu.

Ngài Đại Huệ Cảo nhiều lần được Đại sĩ gia bị, liền soạn Lễ Quán Âm Văn để những điều mong cầu được tăng thêm, có những câu như: Con nay thọ trì Thánh hiệu, lễ bái Thánh Tượng, diệt tội, tăng huệ, đắc đại thọ mạng, đắc đại an lạc.

***