Chuùng ta hoïc Phaät phaûi laáy thaønh toái Chaùnh Giaùc
Laøm muïc tieâu hoïc taäp

kinhphatthuyet.vn

LUẬN THIỀN TỊNH SONG TU CỦA NGÀI VĨNH MINH DIÊN THỌ - TẬP MỘT - SỰ TÍCH NGÀI DIÊN THỌ

LUẬN THIỀN TỊNH SONG TU

CỦA NGÀI VĨNH MINH DIÊN THỌ

Giảng giải: Đại Sư Vĩnh Minh Diên Thọ
 

TẬP MỘT

SỰ TÍCH NGÀI DIÊN THỌ
 

Đời Nhà Đường, niên hiệu Hội Xương năm thứ năm, 845 TL, Vua Võ Tôn hủy diệt Phật Pháp, khiến Phật Pháp phải chịu nhiều trù dập, thế lực Phật Giáo không kham nổi nên suy tàn. Sau đó, đến cuối đời Đường, qua thời Ngũ Đại, chiến loạn liên tiếp nên vận mệnh Phật Giáo cũng suy vi không trấn hưng nổi.

Đặc biệt là thời Hậu Chu, niên hiệu Hiển Đức thứ hai, 955 TL, Vua Thế Tông nhiều lần phá hoại Phật Giáo, Chùa Tháp, Tượng Phật bị thiêu hủy, chuông khánh đem nấu để đúc làm tiền tệ, trừ Ngô Việt ở phương Nam, Phật Giáo có sự bảo tồn.

Mãi đến đời Tống, năm đầu niên hiệu Kiến Long, 960 TL, Tống Thái Tổ thống nhất thiên hạ đề xướng Phật Giáo, đến Thái Tông, Chẩn Tông, Nhân Tông,…đều chủ trương làm hưng thịnh Phật Giáo. Đây là nét canh tân phục hưng rực rỡ của tinh thần văn hóa phương Đông.

Thời kỳ này, sự nghiệp dịch Kinh và giáo lý phát triển nhưng chỉ thu thập những gì còn lại, tất cả đem so sánh với đời thịnh Đường thì không bằng. Cho nên, nói thời đại mà nghiên cứu và lý luận trở thành quá khứ. Còn có thể nói đây là Phật Giáo đời Tống tiến xa vào một thời đại thực tiễn. Vào thời Tống, Thiền Tông hưng thịnh, tiếp đến Thiên Thai, Tịnh Độ cũng dần dần trấn hưng.

Phật Giáo thời kỳ nào nếu chủ yếu chú trọng tu trì, thì vận mệnh Phật Giáo sẽ hưng thịnh. Quả thật tinh hoa Phật Giáo sau đời Đường rất thịnh hành, tựu trung từ sơ Đường đến nay, Thiền và Tịnh bác bỏ lẫn nhau.

Huệ Nhật, Pháp Chiếu v.v… đều cho người học Thiền là bụng rỗng tâm ngạo viết ra. Lại có những sách như Thập Nghi Luận và Niệm Phật Kính chỉ trích Thiền Tông là thiên kiến, nhưng đối với tác dụng của Thiền Tông chỉ phản tĩnh, tự mình thanh tịnh.

Ngài Huệ Trung ở Nam Dương chủ trương hành giải kiêm cả tu trì. Ngài Bách Trượng Hoài Hải chế định thanh quy cho Thiền Lâm quy định pháp chế, khi lễ trà tỳ phải xưng dương danh hiệu Di Đà. Tất cả mọi việc ở đây tuy trình bày chưa tường tận, nhưng chủ trương rất rõ ràng.

Đến những năm cuối của thời Ngũ Đại, Ngài Vĩnh Minh Diên Thọ ra đời, nhất quyết đề xướng Thiền, Tịnh song tu, lý sự vô ngại thành tựu trọn vẹn cả không lẫn hữu, là yếu chỉ của Phật Giáo, đồng thời cũng từ việc quảng diễn vạn thiện hạnh môn pháp niệm Phật là muôn hạnh thù thắng.

Đương thời nó đã dành cho Thiền Tông một tác động rất lớn. Về sau các Thiền Sư như Thiên Y Nghĩa Hoài, Huệ Lâm Tông Bổn cũng đồng nhiệt liệt hưởng ứng. Từ đời Nguyên, Minh về sau đã trở thành một giáo phong thông lệ bất hủ, tạo thành một nét đặc sắc lớn cho Thiền, Tịnh song tu của Phật Giáo Trung Quốc.

Ngài Diên Thọ họ Vương, người Dư Hàng, phủ Lâm An, nay là huyện Dư Hàng, tỉnh Chiết Giang. Khi Ngài hai mươi tuổi một lòng Quy Y Phật, ngày ăn một bữa, thường Tụng Kinh Pháp Hoa, năm lên hai mươi tám tuổi, làm tướng trấn thủ ở Hoa Đình, Tỉnh Giang Tô.

Năm ba mươi tuổi, Ngài xin Ngô Việt Vương nghỉ làm quan, thế phát Xuất Gia với Thiền Sư Thuý Nham ở Chùa Long San và sống hạnh Đầu Đà. Sau đó, đến núi Thiên Thai Tham Thiền nhập định chín tuần dưới đỉnh Thiên Trụ, rồi lại tham kiến Thiền Sư Pháp Nhãn Đích Tự Đức Thiều.

Thiền Sư Đức Thiều biết Ngài là một pháp khí bèn truyền trao mật chỉ, Ngài liền tỏ ngộ. Sau đó Ngài đến Chùa Quốc Thanh tu Sám Pháp Hoa và tại Thiền viện Trí Giả từng bốc hai quẻ bói, một là Nhất tâm tu thiền, hai là Tụng Kinh Vạn thiện, tức Trang nghiêm Tịnh Độ.

Bảy lần chiếm quẻ đều trúng quẻ chọn Kinh Vạn thiện, nên Ngài không chỉ quyết tâm tu thiền mà thệ nguyện dốc sức Tụng Kinh Vạn Thiện. Vào thời Hậu Chu, niên hiệu Quảng Thuận năm thứ hai, 952 TL, Ngài ở núi Tuyết Đậu cho đến đời Tống, niên hiệu Kiến Long năm thứ nhất, 960 TL, rồi Ngài nhận lời mời của Ngô Việt Trung Ý Vương, đến phục hưng Chùa Linh Ẩn ở Hàng Châu.

Năm sau, Ngài đến ở Chùa Vĩnh Minh, hay gọi Chùa Tịnh Từ, Hàng Châu, học trò theo học với Ngài hơn hai ngàn người, họ từng làm kệ rằng:

Dục thức Vĩnh Minh chỉ

Môn tiền nhất hồ thuỷ

Nhật chiếu quang minh sanh

Phong lai ba lãng khởi.

Tạm dịch:

Muốn biết ý Vĩnh Minh

Hồ nước ở trước cửa

Trời lên nắng chiếu soi

Gió thổi nước gợn sóng.

Ngài Diên Thọ ở Chùa Vĩnh Minh mười năm năm và truyền giới Bồ Tát cho bảy chúng đệ tử, lúc ấy mọi người tôn Ngài là Di Lặc Hạ Sanh. Trong sinh hoạt thường nhật của Ngài có lễ cúng thí thực cho quỷ thần vào mỗi tối và phóng sanh vô số.

Bộ Pháp Hoa, Ngài tụng một vạn ba ngàn lần, tiếng tăm Ngài vang dội khắp nơi. Nên sau đó, Vua Quang Tông Đại Thành nước Cao Ly nghe tiếng, sai sứ thỉnh Ngài đến để thọ giáo pháp.

Nhà Vua trai giới chấp thuận tác lễ làm đệ tử, lại dâng cúng Ngài đại y dệt bằng kim tuyến, một xâu chuỗi kết bằng thủy tinh màu tím, một hộp kim thang thuốc bổ, rồi phái ba mươi sáu vị Tăng đến học, Ngài Diên Thọ truyền trao yếu chỉ cho. Sau khi từ Cao Ly trở về, Ngài lại hoằng dương đạo pháp. 

Do đó, Tông Pháp Nhãn được lan truyền khắp Đông Hải. Thường khóa của Ngài Diên Thọ là hằng ngày làm trăm công việc Phật Sự.

Công việc trong yếu của Ngài là thọ trì Thần Chú, Chú Đại Bi, Chú Tôn Thắng Đà La Ni, niệm Phật, lễ Phật, sám hối, Tụng Kinh, Kinh Pháp Hoa, Bát Nhã Tâm Kinh, Hoa Nghiêm Phẩm Tịnh Hạnh, Tọa Thiền, thuyết pháp và mỗi ngày Ngài đảnh lễ Mười Phương Phật: Thích Ca, Văn Thù, Phổ Hiền, Di Lặc, Quán Âm, Thế Chí,…mỗi đêm Ngài ở nơi hoang dã cúng thí thực cho quỷ thần. Ngài Diên Thọ phát nguyện cầu sanh Tây Phương, mỗi ngày Ngài niệm mười vạn danh hiệu Đức Phật Di Đà.

Khi Trời tối, Ngài thường đi đến núi xa để niệm Phật, mọi người theo Ngài cả trăm người. Vào những đêm thanh trăng sáng, Ngài thường nghe tiếng kèn ốc loại nhạc khí của Trời.

Vua Ngô Việt Trung Ý rất quý trọng thâm đức của Ngài. Nghe sự việc Ngài làm, Vua cảm động, thành tâm, thành chí xây cho Ngài một điện Hương Nghiêm Tây Phương và ban tặng Ngài hiệu Trí Giác Thiền Sư, vào tháng mười hai năm thứ tám niên hiệu Khai Bảo, đời nhà Tống. Ngài Viên Tịch tại Chùa Vĩnh Minh, thọ bảy mươi hai tuổi.

Trước tác của Ngài rất nhiều như: Tông cảnh lục một trăm quyển, vạn thiện đồng quy tập sáu quyển, thần thê an dưỡng phú, duy tâm quyết, Thọ Bồ Tát giới, mỗi loại một quyển. Tất cả hơn sáu mươi bộ, có thể nói đó là một đời thạc học. Nền học vấn và sự hành trì của Ngài sánh ngang Ngài Trí Giả Đại Sư.

***