Chuùng ta hoïc Phaät phaûi laáy thaønh toái Chaùnh Giaùc
Laøm muïc tieâu hoïc taäp

kinhphatthuyet.vn

ĐẠI SƯ TRIỆT NGỘ KHAI THỊ - PHẦN HAI

ĐẠI SƯ TRIỆT NGỘ KHAI THỊ

Giảng giải: Đại Sư Triệt Ngộ
 

PHẦN HAI
 

Lại ta phải biết: Cái chánh tông của một câu niệm A Di Đà Phật là gồm cả bốn lớp tông chỉ.

1. Tông chỉ duy tâm.

2. Tông chỉ duy Phật.

3.Tông chỉ tuyệt đại viên dung.

4. Tông chỉ siêu tình ly tình kiến.

1. Nói về tông chỉ duy tâm: Cái nghĩa duy tâm cần phải dùng ba lượng mà hoạch định mới được.

Ba lượng là: Hiện lượng, tỷ lượng và Thánh ngôn lượng.

Hiện lượng: Là nói thân chứng cái lý trong lúc hiện tiền.

Tức như Ngài La Thập Đại Sư lúc còn nhỏ mới được bảy tuổi, đi theo mẹ về Chùa lễ Phật, chợt thấy cái bát của Phật, bèn mừng rỡ lấy đội trên đầu, bèn phút chốc lại nghĩ rằng:

Tuổi của ta quá nhỏ mà bát của Phật quá nặng, thì làm sao đội nổi. Trong khi cái niệm ấy vừa khởi ra, thì Ngài thoạt nhiên tắt tiếng mà để bát xuống rồi Ngài tỏ ngộ cái lý vạn pháp duy tâm liền.

Lại như Ngài Duy Hiểu Pháp Sư ở nước Cao Ly, trong khi qua Tàu tham học, đêm nằm nghỉ nơi gò mã. Nhân lúc khát nước thái quá, chợt thấy một dòng nước trong ở dưới sự chiếu sáng của ánh trăng. Ngài bèn lấy tay bụm nước mà uống thì vị nước rất thơm ngọt.

Đến sáng thì Ngài trông thấy nước ấy phát suất từ trong cái mã chảy ra ngoài liền sanh lòng nhờm gớm mà ói mửa. Bất chợt Ngài tỏ ngộ cái lý vạn pháp duy tâm bè trở về bổn quốc mà viết sách. Đó là hai người đều hiện lượng thân chứng.

Tỷ lượng: Là nơi muôn các tướng mà quan sát cái nghĩa rồi so sánh ví dụ mà biết. Nhưng ở trong các ví dụ, thì chỉ có dụ chiêm bao, như ta trông thấy núi sông, người, vật... nhưng đều không lìa cái tâm nằm mộng chiêm bao của ta. nếu ngoài mộng tâm ra thì không có một pháp gì có cả. Xét đó thì có thể tỷ dụ mà biết được hết thảy các pháp hiện tiền cũng chỉ từ tâm ta mà duy tâm sở hiện vậy.

Thánh ngôn lượng: Là nói cái lý Tam Giới duy tâm, vạn pháp duy tâm ấy là, ngàn Kinh muôn luận cũng đều nói như thế cả. Sau khi đã đúng ba lượng mà hoạch định cái nghĩa duy tâm rồi, lại phải ước sự muôn và lý môn mà biện rõ cái nghĩa cụ và tạo.

Cụ là lý cụ: Là nói vạn pháp đều sẳn đủ ở trong lý thể. Còn tạo là nói nương theo chúng duyên mà tạo ra các việc. Cũng bởi có lý đủ mới có sự tạo lý, nếu chẳng đủ thì sự tạo do đâu mà thành. Cho nên lý đủ thì chỉ đủ trong sự tạo, ngoài sự tạo ra không có cái đủ nào khác.

Lại cũng bởi có sự tạo mới rõ lý đủ. Sự nếu chẳng tạo thì lý đủ do đâu mà biết cho nên sự tạo là chỉ tạo trong lý đủ. Ngoài lý đủ ra không có cái tạo gì riêng.

Vậy biết rằng trong một niệm tâm ấy gốc đủ mười giới muôn pháp lại cũng đủ một niệm ấy tùy duyên mà tạo thành mười giới muôn pháp vậy.

Lý cụ là như trong chất vàng nó sẵn đủ cái lý thành được những đồ hình như mâm, thoa, xuyến, nhẫn v.v... Còn sự tạo là như tùy theo cái duyên phải hội đủ: Như có lửa, dụng cụ làm, thợ đúc... mà làm thành các vật như mâm, thoa, xuyến, nhẫn v.v...

Lại lý cụ là như trong chất bột có sẵn đủ cái lý thành được những món thực phẩm, còn sự tạo cũng như do nơi hội đủ các duyên: Nước, lửa, thợ... mà làm thành các món thực phẩm vậy. Sau khi biện sự lý rồi lại phải ước theo danh và thể có đồng có khác mà chọn định chân vọng, vì trong có cái danh khác mà thể đồng, cho nên cần phải chọn định.

Danh đồng mà thể khác: Là như đồng một cái danh. Tâm lại có thứ tâm nhục đoàn, tâm duyên lự, tâm tập khỉ và tâm kiên thiệt khác nhau.

Tâm nhục đoàn: Là trái tim ở trong thân người, nó vẫn là một cục thịt cũng đồng như cái thân khác ở ngoài và không biết chi cả.

Tâm duyên lự: Là cái tâm hay chuyền, níu theo ngoại cảnh và hay lo nghĩ lấy mọi việc tức là tám thứ thức nên thuộc về vọng tâm.

Tâm tập khỉ: Tức là thức A lại da, thức thứ tám, vì nó hay nhóm chứa những hột giống chủng tử của các pháp và hay phát khỉ ra hiện hành, nên thuộc về chân vọng hòa hiệp.

Tâm kiệt thiệt: Tức là tánh kiên cố chân thiệt, nó chính là cái tâm thể thuần chân lià ngoài các thứ niệm lự mà có cái biết rất linh mẫn. Cho nên nghĩa duy tâm nói đây tức là nói về tâm ấy.

Danh khác mà thể khác là như một cái danh kêu rằng: Chân như, Phật Tánh, thiệt tướng pháp giới của trong các Kinh nói đó, cũng đều là cái tâm kiên thiệt thuần chân ấy cả. Đến khi đã chọn định chân vọng rồi, lại phải chiết trung mà chỉ điểm cái nghĩa bản hữu và hiện tiền cho rõ.

Bởi vì trong các Kinh đều nói chân tâm sẵn có từ hồi vô thỉ, mà đã nói sẵn có thì ngày nay há lại không có?

Vậy biết cái hiện có ngày nay tức là cái tâm sẵn có ngày trước. Nếu không từ lúc vô thỉ thì chắc không lúc hiện tiền vậy. Bằng lìa lúc hiện tiền thì đâu có lúc vô thỉ. Cho nên ta chẳng cần suy tôn cái sẵn có và chẳng cần nghĩ tới lúc vô thỉ làm gì. Thiệt ra cái tâm tánh một niệm hiện tiền này đây tức là cái chân tâm sẵn có từ lúc vô thỉ.

Vì một niệm hiện tiền ấy, toàn chân mà thành vọng, toàn vọng mà tức chân, trọn ngày tùy duyên, trọn ngày bất biến. Nếu lìa một niệm hiện tiền ấy ra, thì không có cái tự tánh chân tâm nào khác.

Tiên Đức nói: Đời Phật Oai Âm Vương về trước mà không lìa khỏi đầu cửa đời nay. Vô minh hiện hành của chúng sanh tức là cái trí thể bất động của Chư Phật là cũng nói về ý ấy.

Do bốn nghĩa ba lượng sự lý, danh thể và bản hữu hiện tiền như trên mà hiểu rõ cái nghĩa duy tâm. Cho nên lấy duy tâm làm tông vậy.

2. Nói về tông chỉ duy Phật: Vì hết thảy muôn pháp đã là duy tâm sở hiện, thì toàn thể tức là duy tâm, nhưng tâm không lià đây. Tâm không giới hạn đối với mười môn pháp, hoặc y báo, hoặc chánh báo, hết thảy các pháp giả danh, mà tuy nắm lấy một pháp gì cũng đều tức là toàn thể của tâm và cũng đều đủ đại dụng của tâm, rộng khắp bao trùm, mỗi mỗi đều như tâm không khác.

Nếu nghĩa duy tâm thành rồi thì hết thảy những nghĩa duy sắc, duy thanh, duy hương, duy vị, duy súc, duy pháp, cho đến duy vị trần, duy giai tử cũng đều thành cả.

Nếu hết thảy nghĩa duy ấy đều thành thì cái nghĩa chân duy tâm mới thành được. Bằng như hết thảy nghĩa duy ấy chẳng thành thì cái gọi rằng duy tâm đó chỉ có hư danh mà không có thiệt nghĩa vậy.

Cũng bởi hết thảy nghĩa duy ấy đều thành, cho nên nói pháp không có tướng nhất định. Hễ gặp duyên, thể thì thành tổng thể. Thì duy vi trần, duy giai tử có thể làm tông được.

Huống chi qủa địa Di Đà tám muôn tướng hảo trang nghiêm mà lại không có thể làm tông được hay sao?

Vì vậy nên lấy duy Phật làm tông là thế.

3. Nói về tông chỉ tuyệt đãi viên dung: Tông chỉ ấy nghĩa là đối với mười giới muôn pháp, mà tuy nắm lấy một pháp gì cũng là đủ cả toàn thểvà đại dụng của tâm ngang pháp mười phương, dựng cùng ba khoản, lìa cả tứ cú, tuyệt cả bách phi, riêng một cái tự thể toàn chân ngoài ra không có chi nữa và trong ấy chẳng dung vật gì. Một pháp đã thế muôn pháp cũng vậy. Đó là lấy theo cái đương thể tuyệt đối của các pháp làm tuyệt đãi.

Và trong mười giới muôn pháp mỗi mỗi đều giáp khắp lẫn nhau, ngâm trùm lẫn nhau, bao la lẫn nhau, thông lẫn nhau, không che không ngăn, không lùi không tạp. Cũng như hột châu đế võng, ánh sáng này xen lộn ánh sáng khác. Điệp điệp trùng trùng mà không ngăn ngại. Đó là lấy theo chỗ giao hỗ của các pháp làm viên dung.

Nay đây hiệp cả tuyệt đãi và viên dung làm một tông chỉ. Thì trong lúc tuyệt đãi tức là viên dung. Và chính trong lúc viên dung tức là tuyệt đãi.

Chẳng phải lìa tuyệt đãi, chẳng phải lìa viên dung ra mà có tuyệt đãi riêng. Viên dung ấy là viên dung cái tuyệt đãi. Tuyệt đãi và viên dung đều không thể nghĩ bàn được mà nay hiệp cả tuyệt đãi và viên dung làm một tông. Thiệt là bất tư nghì ở trong bất tư nghì vậy.

4. Nói về tông chỉ siêu tình ly kiến: Vì nếu lấy theo nghĩa tuyệt đãi của các pháp, thì lìa cả tứ cú, tuyệt cả bách phi đã siêu việt về ngoài phạm vi tình vọng, chấp trước của hết thảy chúng sanh và chỗ thấy riêng khác của tam thừa Hiền Thánh.

Còn lấy theo nghĩa viên dung của các pháp, thì gồm cả tứ cú, hội cả bách phi, lại càng không thể phàm tình, thánh có thể kịp được.

Cho nên lập siêu tình lư kiến làm tông chỉ là thế. Tóm lại, một câu Di Đà mà trước hết lấy duy tâm làm tông, kế đến lấy duy Phật làm tông, tiếp theo lấy tuyệt đãi viên dung làm tông và sau cùng lấy siêu tình ly kiến làm tông. Là vì tóm cả bốn lớp tông chỉ ấy mới thiệt là cái chánh tông chỉ của câu Di Đà.

Vậy thì biết tông chỉ đâu phải là thứ dễ nói. Một pháp môn niệm Phật ấy như Trời khắp che, như đất khắp chỗ. Không có một người và một pháp nào lọt ra ngoài được.

Tức như toàn Kinh Hoa Nghiêm tuy có năm châu bổn phận khác nhau, mà lấy nhân qủa gồm thâu hết ráo, nhân tâm của bốn mươi mốt vị không một tâm nào chẳng xu hướng về quả pháp, và mổi mổi pháp hạnh sở tu của bốn mươi mốt vị cũng đều là Pháp Hạnh niệm Phật. Mà rốt cùng Ngài Phổ Hiền lấy Mười Đại Nguyện Vương đem về Cực Lạc mà làm một cái kiến huyệt lớn cho toàn Kinh, thế là đủ rõ.

Lại nghĩa hai chữ Hoa Nghiêm là lấy cái hoa nhân vạn hạnh mà trang nghiêm cái quả Phật nhất thừa.

Vậy vạn hạnh ấy không phải là hạnh niệm Phật hay sao?

Còn như Kinh Pháp Hoa thì từ trước chí sau, cũng đều mở bày cái tri kiến của Phật cho người tỏ thấu.

Vậy trước sau chỉ là pháp môn niệm Phật chớ gì?

Đến như Kinh Lăng Nghiêm thì trước hết mở bày tạng tánh để hiểu rõ cái chân nhân thành Phật. Sau trải qua sáu mươi thánh vị viên mãn tâm Bồ Đề, rút về chỗ vô sở đắc mà chứng cái cực qủa Phật địa.

Rốt sau lại nói rằng giả như có người tự mình phạm tội tứ trọng thập ác. Thì trong nhấp nháy đi khắp mười phương địa ngục Vô Gián.

Mà nếu người sắp đọa địa ngục ấy biết phát một niệm đem cái pháp môn đại định viên dung khai thị cho kẻ mạt học trong thời kỳ mạt pháp thì tội chướng của người ấy tức thời tiêu diệt và biến mất cái khổ nhân địa ngục mà biến thành nước an lạc liền. Thế là trong thông suốt trước sau, cũng chỉ là một pháp môn niệm Phật.

Tóm lại trong một thời kỳ hóa đạo của Phật ba tạng mươi hai bộ, khai thị những pháp môn thiên viên ấy là cũng hiểu rõ cái duy tâm, tự tánh, đặng viên mãn thành tựu cái cực qủa vô lượng Diệu Giác đó thôi. Vậy đủ biết những pháp môn ấy tức là một pháp môn niệm Phật tổng cộng lớn lao chớ không có chi khác.

Đến như bên Thiền Tông, Ngài Đạt Ma Tổ Sư ở Tây Trúc đi đến xứ này. Đáng lẽ Ngài nói chỉ thẳng tâm người, thấy tánh là xong.

Vậy không phải Tông Môn cũng là môn niệm Phật hay sao?

Cho nên hiệp cả hai phái năm tông và một ngàn bảy trăn công án, cũng đều chỉ điểm cái tánh bản nguyện của người đã hiểu rõ cái Pháp Thân thanh tịnh sẵn có. Mà Pháp Thân bàng bạc khắp nơi, không đâu chẳng khắp. Còn người tham thiền thì lúc nào cũng hiện tỉnh giác niệm và cái gì cũng tương ứng. Vậy thì ở đâu mà không phải pháp môn niệm Phật.

Thế mà những bọn vô tri lại nói: Người trọng Tông Môn chẳng nên niệm Phật. Ấy là chẳng những không biết niệm Phật mà cũng không biết tới Tông nữa.

Huống lại chẳng những hai môn tông và giáo như mang khắp cả nhân loại trong thế gian: Nào sĩ, nông, công, thương, cho đến hết thảy mọi sắc người, mà dầu chẳng muốn niệm Phật và chẳng biết tới Phật đi nữa.

Cũng không ra ngoài pháp môn niệm Phật. Vì những sự đi hoặc tới, hoặc động hoặc tịnh của nhân loại đều noi theo đạo lý ấy. Mỗi mỗi dùng niệm hằng ngày mà không biết.

Lại có tám việc ta cần phải rõ:

1. Thiệt vì sanh tử mà phát tâm Bồ Đề là con đường phổ thông của người học đạo.

2. Dùng tín nguyện sâu thiệt thọ trì danh hiệu Phật làm cái chánh tông Tịnh Độ.

3. Phải nhiếp tâm chuyên niệm làm cái phương tiện hạ thủ.

4. Đè bẹp các thứ hiện hành phiền não làm món cần yếu tu tâm.

5. Giữ bốn điều trọng giới làm căn bản nhập đạo.

6. Dùng những khổ hạnh làm trợ duyên cho sự tu.

7. Cần phải nhất tâm bất loạn làm chỗ quy túc cho tịnh hạnh.

8. Phải lấy những điềm tốt có linh ứng mà làm môn chứng nghiệm cho sự Vãng Sanh.

Trong tám việc ấy, người tu tịnh nghiệp cần phải hiểu rõ biết hết.

Chúng sanh bị luân hồi là luân hồi trong sáu thú, mà chúng sanh ở các thú kia thì cũng mắc phải những sự: Kinh hãi quỷ súc, sân hận tu la, thống khổ địa ngục, khóai lạc Chư Thiên. Làm chướng ngại mà không sáng suốt, rỗi rãnh tu đạo. Duy có chúng sanh ở trong nhân thú là có thể đủ duyên sửa đổi tâm lự để quy hướng về quả tâm Bồ Đề được thôi.

Nhưng chúng sanh mà làm mất thân người cũng nhiều gần như số đất trên quả Địa Cầu này. Còn chúng sanh mà có được thân người này cũng như số đất dính trong móng tay. So sánh sẽ thấy thân người đâu phải dễ mà có được.

Lại chúng sanh ở trong nhân thú. Từ lúc sanh ra cho đến lớn, đến già và chết. Nào những chỗ thấy của mắt, chỗ nghe của tai, chỗ suy tính của tâm và chỗ hành động của thân. Không một cái gì chẳng phải là việc trần lao của thế gian và nghiệp duyên của sanh tử. Thế thì Phật Pháp đâu phải là dễ được nghe.

Thân người đã khó được như vậy, huống chi ở trong đám người mà làm được cái thân Nam Tử trọn vẹn sáu căn lại còn khó nữa. Còn Phật Pháp đã khó nghe như vậy, huống chi ở trong Phật Pháp mà nghe được danh hiệu Di Đà và pháp môn Tịnh Độ lại càng khó được nữa.

Thế mà ngày nay ta may mắn có được cái thân người khó được này. Và được nghe cái Phật Pháp khó nghe, là một sự hết sức may mắn hy hữu và hết sức quý hóa. Mà nghe được nhưng không chịu tin.

Ôi thật đáng tiếc biết là dường nào. Nhưng mấy kẻ không tin thì chẳng nói đến làm chi. Còn như những kẻ đã tin mà chẳng nguyện thì cũng như là kẻ không tin. Nguyện mà chẳng hành thì coi như là kẻ không nguyện. Có hành mà chẳng dòng mảnh thì cái nguyện chẳng khẩn thiết. Mà cái nguyện sở dĩ chẳng thiết là do cái tin chẳng chân vậy.

Xét như thế thì biết phát được cái tín tâm cho chân thật là khó. Mà tín đã chân thì nguyện tự nhiên phải thiết. Nguyện đã thiết thì hành tự nhiên phải dõng mãnh. Nếu tín và nguyện đã chân thiết mà lại thêm cái sức thiệt hành dõng mãnh. Thì quyết định được sanh về Cõi Tịnh Độ. Quyết định được thấy Phật A Di Đà. Quyết định chứng được bất thối và quyết định được bổ xứ làm Phật Sự ngay.

Mà nếu được sanh về Tịnh Độ Phật Quốc thì nghiệp căn sanh tử trong vô lượng kiếp nhẫn lại đều từ đó mà đoạn tuyệt luôn. Còn đã được bổ Phật xứ rồi, thì cái cực qủa vô thượng Diệu Giác rất tôn quý kia chắc được viên mãn thành tựu.

Vậy thì một niệm chân tín ấy đối với người tu rất có cái quan hệ lớn lắm. Nếu không phải là bậc người trồng sẵn có căn lành đã lâu và nghiệp duyên sanh tử có ít thì làm sao được vậy.

Nhưng chúng ta đã trải qua thời gian từ vô lượng kiếp nhẫn lại. Nghiệp lực dầu nặng hay nhẹ và thiện căn dầu cạn hay sâu cũng đều không thể biết được.

Duy có một điều là nghiệp lực do nơi tâm chuyển biến, thiện căn do nơi người vun trồng, cho nên những kẻ Hoằng Pháp cần phải dùng cơ phương tiện tỏ bày và những kẻ học đạo cũng phải hết sức dõng mãnh đi tới.

Nếu một lời nói nghe lọt vào lỗ tai hay là một niệm phát khởi trong cõi lòng cũng đều có thể chuyển được nghiệp lực và trồng được thiện căn trong đời.

Chỉ sợ những hạng người dầu nghe giáo pháp khai thị cách nào đi nữa cũng không khởi tâm để ý. Tuy gặp hoàn cảnh cũng không một lời để ý. Tuy gặp hoàn cảnh thuận nghịch cho mấy cũng không một niệm phát tâm thì hạng người ấy chính là người nghiệp lực quá nặng và thiện căn quá ít, cũng không biết làm sao cho được.

Một niệm tâm tánh hiện tiền của chúng ta gốc nó đồng thể với Phật. Mà Phật đã giác ngộ rồi, mà ta đây hãy còn si mê như cũ. Phật tuy đã ngộ chứng mà tánh ấy cũng không thêm. Ta đây còn mê lầm mà tánh ấy cũng không bớt.

Phật tuy không thêm, mà vì thuận theo tánh ấy cho nên hưởng thọ cái vui pháp lạc. Phật vì tâm đại từ đại bi niệm niệm nhớ nghĩ đến ta và luôn nhiếp hóa ta. Còn ta thì ở trong tâm tánh đồng thể, tuy gặp phải cái khổ trầm luân mà chẳng biết trông cầu nơi Phật, chẳng biết nhớ nghĩ đến Phật.

Chỉ cứ đắm cảnh sanh lòng theo tình tạo nghiệp từ vô thủy kiếp nhẫn lại. Nào ngũ nghịch thập ác, cái nghiệp xấu ác nào cũng dám làm. Nào bát nạn tam đồ không cái khổ lớn nào mà chịu từ bỏ. Khi nói đến đáng nên thẹn mặt và nghĩ đến đáng nên rùng mình.

Mà giả sử ngày nay ta còn chẳng chịu niệm Phật, chỉ cứ vùi đầu tạo nghiệp và vùi đầu mê si chịu khổ như cũ nữa.

Thì hoá nên có đáng hổ thẹn không?

Có nên đáng sợ không?

Vậy bắt đầu từ ngày hôm nay ta phải biết Phật đã từ lâu luôn thường khởi tâm đại bi thương tưởng nhớ ta mà dung nhiếp độ trì cho ta. Thì ngày nay ta phải biết cảm ơn Phật quá sâu thì nên phát tín tâm niệm Phật.

Lại vì ta đã trải qua nhiều kiếp số lâu dài, đã chịu đủ mọi sự thống khổ. Vì thế nên ngày nay ta muốn cầu cho được giải thoát sanh tử mà phải niệm Phật.

Nhưng vì nghiệp ác ta đã lỡ tạo rồi mà không biết được cách tiêu trừ?

Vì thế ngày nay ta nên sanh lòng hổ thẹn sám hối mà phải niệm Phật. Lại cái tâm tánh đồng ấy đã nói rằng tất cả là bạn hữu, thì ngày nay đâu phải là không có. Chỉ vì ta thiếu sự chứng ngộ đó thôi. Vậy ta nếu muốn cầu cho tỏ ngộ tâm tánh ấy thì phải niệm Phật.

Nếu ta biết dùng cái tâm câu ngộ, tâm hổ thẹn, tâm sợ khổ, tâm cảm ơn Phật mà niệm Phật. Thì phải niệm Phật cho chắc thiết, huống chi trước kia ta chẳng biết niệm Phật mà Phật còn nhớ ta, nghĩ đến ta. Thì ngày nay ta niệm Phật khẩn thiết thì chắc Phật sẽ luôn thường nhớ nghĩ đến ta và tiếp dẫn độ ta trong từng giờ phút.

Ngài Đại Thế Chí Bồ Tát nói: Mười Phương Chư Phật thường luôn nhớ nghĩ đến tất cả chúng sanh như mẹ hiền nhớ con. Nếu con trốn mẹ, thì tuy mẹ nhớ con cũng không biết làm sao gặp mặt. Nếu con nhớ mẹ, muốn gặp mẹ cũng như mẹ nhớ con, thì mẹ con sẽ có ngày hội ngộ đoàn tụ đời đời chẳng xa cách nhau nữa.

Nếu tâm chúng sanh nhớ Phật mà niệm Phật thì lúc hiện tiền hay lúc đương lai chắc được thấy Phật, cách Phật chẳng xa không cần mượn pháp phương tiện nào khác mà tự mình tâm được mở mang.

Đó là cái cảnh giới của Đại Sĩ đã tự mình chứng rõ và mình thiệt đi đến. Mà đem hết chân thật ruột gan để bày tỏ cho chúng ta biết vậy.

Thế thì chúng ta ngày nay niệm Phật, chắc được thấy Phật mà đã thấy Phật thì chắc chắn thoát khỏi mọi sự ưu não và sẽ có thời kỳ tỏ ngộ. Mà nếu đã tỏ ngộ thì tức đã rửa được những cái hổ thẹn của ta.

Vậy nếu không niệm Phật thì niệm cái gì được gọi là tối thượng đây?

Hết thảy chúng sanh, bản lai là Phật, là chân tâm, là gốc có vọng tánh nguyện không tất cả pháp. Tánh mình sẵn có đủ.

Chỉ vì chúng sanh từ hồi nào đến giờ cứ đeo theo cái duyên mê nhiểm, mà chưa đoạn được vọng nguyện không và chưa chứng được cái chân gốc có. Cho nên tánh của mình đủ mà chưa tu và ông Phật của mình có sẵn mà chưa thành là thế.

Vậy ngày nay nếu muốn đoạn thứ vọng ấy, muốn chứng cái chân ấy, muốn tu hạnh lành ấy và muốn thành ông Phật ấy, mà theo duyên ngộ tịnh ấy thì quyết không có pháp nào vừa thẳng tắc, vừa mau chóng và viên đốn cho bằng pháp trì danh niệm Phật.

Bởi vì cái tâm năng niệm của ta gốc là toàn chân mà thành vọng và toàn vọng mà tức chân. Còn ông Phật sở niệm gốc toàn đức. Ngoài cái tâm năng niệm không có ông Phật niệm nào khác và ngoài ông Phật sở niệm không có cái tâm năng niệm nào riêng biệt.

Năng sở đều quên, tâm Phật như một ở trong niệm niệm tròn phục và tròn đoạn năm trụ phiền não, tròn chuyển, tròn diệt ba thứ nhiễm chướng, tròn phá năm ấm, tròn vượt năm trược, tròn sạch bốn cõi, tròn niệm ba thân, tròn tu muôn hạnh, tròn chứng bản chân, mà tròn thành cái qủa vô thượng Diệu Giác.

Một niệm như thế, niệm niệm đều như vậy, nếu được niệm niệm nối luôn, thì cái trình độ đi tới của sự phục đoạn tu chứng không thể nghĩ bàn được. Ấy là lấy cái tâm toàn Phật, niệm ông Phật toàn tâm thì thiệt có phần oai đức, thần lực của tự tâm qủa Phật mà gia hộ ở trong chỗ minh minh đó vậy.

Xét như thế thì đủ biết một câu Phật Hiệu, đừng có xen lộn chút tạp duyên nào, thì chỉ cần mười niệm thành công. Không cần đợi trải qua nhiều kiếp. Thế mà người đối với pháp môn niệm Phật còn không chịu tin, thì thiệt chẳng khác gì cây đá.

Coi như người không tu pháp môn niệm Phật mà tu cho các pháp môn khác. Dầu không phải là người cuồng thì cũng là người si, không còn nói gì được nữa.

Có người hỏi rằng: Mười Phương đều có Tịnh Độ, mà chỉ khen ngợi Tây Phương và cầu nguyện xin Vãng Sanh về đó là sao vậy?

Đáp: Có nhiều nguyên cớ:

1. Do nơi miệng Phật nói ra, chỉ bảo rõ ràng.

2. Vì các Kinh Đại Thừa hiển và mặt đồng chỉ rõ cả.

3. Khiến cho người phát tâm chuyên chú một cảnh, đặng dễ thành lực niệm Tam Muội.

4. Vì bốn mươi tám lời nguyện làm duyên mạnh và mười niệm làm nhân là nhân thắng.

5. Phật A Di Đà đối với chúng sanh ở cõi này có cái duyên riêng.

Coi như chúng sanh ở cõi này, chẳng luận kẻ tăng người tục, nam hay nữ, già hay trẻ, kẻ thiện hay lành, mà trong lúc trực tiếp sống trong hoàn cảnh quá thuận hay quá nghịch, quá khổ hay quá sướng thì phần nhiều trong miệng đã phát ra một tiếng niệm Phật, mà có niệm Phật thì niệm Phật A Di Đà chớ không niệm Phật nào khác. Thế thì ai đã sai khiến mà thành như vậy.

Đó cũng bởi chúng sanh ở cõi này đã được gội nhớ ơn giáo hoá của Phật đã lâu đời và cảm thọ ơn đức của Phật đã nhiều kiếp, để rồi cùng với Phật A Di Đà đã kết nối có cái duyên sâu dày vậy.

Vả lại Kinh A Di Đà do Ngài La Thập đầu tiên dịch ra. Sau lại Ngài Huệ Viễn. Tổ Chùa Đông Lâm cùng với một trăm hai mươi ba người kiết xã niệm Phật, rồi trong số một trăm hai mươi ba người ấy lần lượt hoá diệt, mà lúc lâm chung đều có điềm tốt lưu lại.

Tuy như chim Anh Võ và con Bát Bát Nhi là loài Súc Sanh mà trong khi chết cũng đều có tướng tường thoại. Vậy thì biết chúng sanh có cái duyên rất thâm sâu với Phật A Di Đà.

Lại Kinh Vô Lượng Thọ nói: Sau khi Kinh Pháp diệt hết rồi. Ta sẽ còn dùng nguyện lực lưu Kinh này lại trụ thế thêm một trăm năm để độ thoát cho chúng hàm thức.

Vậy không phải pháp môn niệm Phật là một pháp để tu trì mà nhiếp cơ được rộng, và để nhập đạo mà thành tựu được mau hay sao?

Xét như thế thì biết thời đại càng rốt ráo sâu chừng nào, thì pháp môn niệm Phật lại càng là pháp đối cơ hợp thời lắm vậy.

Chúng sanh trong thế gian mỗi khi gặp phải lúc hoạn nạn thống khổ, thì đã kêu la với cha mẹ hay kêu Trời trách đất để cầu cứu, mà chẳng biết cha mẹ với Trời Đất không thể cứu ta ra khỏi sinh tử và làm cho ta hết kiếp luân hồi được.

Vì cha mẹ với Trời Đất cũng đồng ở trong vòng sanh tử như ta không khác. Dầu cho tất cả các Bậc Thánh Nhân trong tam thừa, tuy ra khỏi sanh tử, mà vì không lòng đại bi, thì cũng không ích gì cho ta.

Đến như các vị Bồ Tát thì tuy có lòng đại từ đại bi, đại độ. Mặc dầu đạt chỗ tâm chứng đều có phân hạng, cũng chưa có đủ khả năng phổ lợi được quần sanh và đầy đủ hết thảy các nguyện nhẫn đến mười phương Chư Phật tuy đều chứng tột pháp giới, nhưng không phải sức ta cảm được Phật.

Mà giả sử như có cảm được mà thấy Phật đi nữa, thì cũng chẳng qua rảnh khổ trong tạm thời chứ không phải là thiệt rốt ráo.

Duy Phật A Di Đà, hễ ta một phen thấy được Ngài, thì tức thời thoát khỏi mà đời đời dứt hết cội gốc thống khổ đó thôi.

Vậy nên đối với một câu A Di Đà Phật đáng đem hết tâm lực, nguyện lực mà thọ trì, nên ta thường có kệ rằng:

Nghĩ khắp thế gian và xuất thế gian, chẳng niệm Di Đà lại niệm ai. Nhưng niệm Phật chẳng khó, mà khó ở sự bền lâu. Quả được kiên trì một niệm. Như gan rèn sắt đúc. Như một người địch với muôn người, ngàn thánh đón ngăn không đứng lại, muôn trâu lôi kéo chẳng quay đầu.

Cứ trì mãi như vậy thật lâu thì chắc chắn sẽ được cảm thông tương ứng, mà nếu đã được một niệm cảm thông rồi, thì liền ra khỏi ải sanh tử và đi thẳng lên bậc bất thối mà chứng thành Phật qủa ngay. Bằng chỗ dụng tâm chia được như thế mà trở lại nói lời Phật không nghiệm, không linh ứng và cho rằng tâm Phật khó cảm. Thì đây là lối nghĩ sai theo lối tâm vô minh phàm phu, nên hiểu rỏ điều này.

Biết việc nhỏ mà chẳng biết việc lớn, thấy chỗ gần mà chẳng thấy chỗ xa ấy là thường phận của chúng sanh như vậy. Cho nên Phật A Di Đà là một đấng có ân đức lớn. Chỉ có vài chúng sanh không biết mà thôi.

Trong vô lượng kiếp về đời qúa khứ, Ngài A Di Đà đối trước mặt Đức Thế Giới Tự Tại Vương Như Lai. Vì cả Thế Giới ác trược và chúng sanh tội khổ mà phát ra bốn mươi tám đại nguyện rồi Ngài y theo nguyện đó mà trải qua kiếp số lâu dài tu hạnh Bồ Tát bỏ cả ngôi Kim Luân, quốc thành, thê tử. Cho đến đầu, mắt, tủy, não đều thí xả trong bao nhiêu trăm ngàn muôn ức kiếp như vậy.

Ngài đã làm những việc mà con người khó làm. Ngài nhẫn những sự việc mà con người khó nhẫn được, tròn tu hành, sức tột công thuần mà tự làm trang nghiêm được Quốc Độ và viên thành được Phật Quả, chia rải thân mình nhiều đến vô lượng mà tiếp dẫn chúng sanh phương tiện nhiếp hoá, khiến cho chúng sanh tròn đủ duyên để được sanh về nước Ngài.

Phật đã vì hết thảy chúng sanh thì tức là Phật cũng vì ta, cho nên cái nguyện ấy là Phật vì ta, mà phát cái đại định ấy. Là Phật vì ta mà tu.

Bốn độ ấy là:

Phật vì ta mà nghiêm tịnh. Có ba thân Phật là vì ta mà viên mãn. Nhẫn đến chỗ nào cũng hiện thân tiếp dẫn, lúc nào cũng ứng rõ điềm lành, mỗi mỗi đều vì ta tất cả.

Lúc ta tạo nghiệp thì Phật cảnh tỉnh ta. Lúc ta thọ khổ thì Phật cứu vớt ta. Lúc Ta quy mạng thì Phật nhiếp thọ ta. Lúc ta tu hành thì Phật gia hộ ta.

Phật sở dĩ mỗi mỗi vì ta là Ngài muốn cho ta niệm Phật. Muốn cho ta lần lượt truyền hoá hết thảy chúng sanh mà thẳng đến lúc bổ sứ làm Phật, thì Ngài mới mãn nguyện.

Ôi! Cái ơn sâu đức nặng của Phật ban cho ta thật không thể lường. Không thể lấy ơn cha mẹ so sánh bằng. Không thể lấy ơn Trời Đất để bì kịp. Mà nếu không chịu nghe lời Phật khai thị thì làm sao biết được ân này.

Nếu không chịu đọc tụng Kinh Phật thì làm sao rõ tới lý ấy?

Vậy thì ngày nay cho đến tương lai, ta đã biết rõ rồi, thì chỉ có một điều là ta nên hết sức tịnh tu và liều chết niệm Phật mà thôi không còn đợi nói gì nữa.

Hết thảy chúng sanh bị năm thứ lợi sử và năm thứ độn sử sai khiến thân tâm mà phải trôi lăn trong biển sanh tử kiếp nọ sang kiếp kia chịu sự thống khổ không ra khỏi được thiệt cũng nên buồn.

A. Năm thứ lợi sử tức là năm kiến kể dưới đây:

1. Thân kiến: Gồm cả ngã kiến và ngã sở kiến. Ta thường nghĩ là không biết rằng cái tâm ta là do năm uẫn gỉa hợp mà lại trở chấp cho là thiệt có, ấy là kiến ngã. Lại không biết những vật xung quanh Thân ta nó vẫn không có chủ sở hữu nhất định mà lại trở chấp làm vật sở hữu nhất định của ta. Ấy là ngã sở kiến.

2. Biên kiến: Nghĩa là hoặc chấp cái ta ấy sau khi chết rồi nó vẫn hằng còn. Hoặc chấp cái ta ấy sau khi chết nó tiêu mất. Vì hai nghĩa đều chấp một bên như vậy nên gọi là biên kiến.

3. Tà kiến: Nghĩa là bát bỏ luân lý nhân qủa, mà cho rằng trong đời sống không có cái nguyên nhân nào chiêu cảm được sự kết qủa. Và không có cái kết qủa nào do nơi nhân duyên sanh ra. Dầu thiện cũng khôn đủ mừng, và dầu ác cũng khôn đủ sợ. Vì chỗ thấy quá ư là tà mậu, mâu thuẫn như vậy. Nên kêu là tà kiến.

4. Kiến thủ kiến: Nghĩa là chấp lấy những thứ thân kiến, biên kiến, tà kiến cho là phải và chấp hết thảy những việc hạ liệt mà cho là thù thắng hơn hết.

5. Giới cấm thủ kiến: Nghĩa là mê chấp cái thân khổ hiện tại mà giữ theo những thứ tà giới khổ hạnh để làm cái nhân sanh về Cõi Trời hay là chứng đạo niết bàn. Vì năm kiến ấy mê lầm nơi chân lý tứ đế mà khởi ra. Nó là thứ hoặc tánh hết sức mẫn nhuệ. Nên kêu là lợi sử.

B. Còn năm thứ độn sử là:

1. Tham nghĩa là yêu lấy năm kiến làm phải.

2. Sân nghĩa là giận lấy năm kiến làm quấy.

3. Si là dại không biết lấy cái lý trong năm kiến làm trái.

4. Mạn nghĩa là lấy năm kiến làm chánh đáng mà sanh lòng kiêu mạn.

5. Nghi nghĩa là đối với chân lý tứ đế mà dụ dự hoài nghi, không quyết định.

Vì năm sử ấy do lợi sử sanh ra, có phần chậm lụt hơn nên kêu là độn sử.

Trong mười sử ấy, chúng sanh hoặc có nhiều, hoặc có ít, không ai tránh khỏi. Mà nếu tu hành mà còn mang đeo lấy nó, thì càng thêm nuôi lớn tà kiến phiền não. Nhưng muốn đoạn trừ nó cho được cũng khó.

Vì mười sử ấy ở dưới bốn đế:

Khổ, Tập, Diệt và Đạo trải qua ba giới: Dục, Sắc và Vô Sắc Giới. Chín địa ngục giới làm một địa với Sắc Giới. Bốn thiền thiên và Vô Sắc Giới bốn không sứ là chín địa thông kể thành ra tám mươi tám sử kiến hoặc tám mươi mốt phẩm tư hoặc, đã đoạn được kiến hoặc cũng khó như đoạn dòng nước chảy dài đến bốn mươi dặm. Huống chi tư hoặc lại càng khó đặng đoạn hơn nữa.

Cho nên người tu hành mà nếu kiến hoặc và tư hoặc còn dính níu chút ít như một mảy lông, một sợi tóc thì cũng đọa vào ác địa ngục đặng chịu khổ. Còn như sanh về cõi nhân gian thì lại chịu mọi sự khổ não, phần thì oán cừu gặp gỡ, phần thì ân ái chia lìa, cái khổ trạng ấy không thể kể xiết.

Vì đại vương nhờ nhân duyên tu phước đời trước nên mới hưởng sự tôn vinh như vậy. Nếu nay đại vương giữ gìn Giới Luật thì sẽ đặng phước báo lớn hơn nữa, còn như tự học Chánh Pháp thì sẽ có được nhất thiết chủng trí. Vậy xin đại vương nên phát tâm cầu đạo Vô Thượng Bồ Đề, chứ đừng cầu xin những phước nhỏ nhen như hạng người hèn vậy.

Vua vô tránh nhiệm nghe quan Đại Thần Bảo Hải khuyến thỉnh như thế, thì tâm lượng bừng sáng, tự nhiên mở rộng, liền đáp rằng: Trẫm chẳng cầu những việc như khanh nói đó đâu. Trẫm muốn trải khắp trong đường sanh tử làm việc bố thí, trì giới hầu nghe những pháp mầu nhiệm, tu hạnh Bồ Tát và cứu giúp chúng sanh. Do nhân duyên ấy mà phát tâm Bồ Đề.

Đại Thần Bảo Hãi nói rằng: Bồ Đề là một đạo rất trong sạch và sáng suốt, rất ngay thẳng chính đáng, rất trang nghiêm tốt đẹp, rất rộng lớn cao siêu, khắp cả hư không trùm cả Tam Giới, rất có oai thần mãnh lực. Vả lại đạo Bồ Đề là hạnh bố thí, sẽ được giàu sang. Là hạnh trì giới sẽ đặng được thanh tịnh. Là hạnh nhẫn nhục sẽ đặng vô ngã.

Là hạnh tinh tấn sẽ đặng bất thối. Là hạnh thiền định sẽ đặng vắng lặng. Là hạnh bát nhã sẽ đặng sáng suốt. Tu được như vậy mới đến chỗ an lạc và mới chứng đặng qủa Niết Bàn. Vậy xin đại vương nên phát tâm mà cầu đạo vậy.

Vua Vô Tránh Nhiệm đáp rằng: Này khanh, đương thời kỳ trung kiếp mỗi người sống lâu chỉ có tám vạn tuổi mà thôi. Nay đức Bảo Tạng Như Lai ứng hiện ra đời mà giáo hóa chúng sanh. Hoặc có kẻ chứng pháp Tam Muội, hoặc có người đặng được bậc Bồ Tát. hoặc đặng thọ ký làm Phật, hoặc đặng quả báo nơi cõi Nhân Thiên.

Trong hàng chúng sanh có một người nào ra khỏi phân đoạn sanh tử vậy. Thì thừa biết thụ xuất Tam Giới khó đến bậc nào.

Song thụ xuất Tam Giới như vậy thì khó mà hoành xuất Tam Giới thì dễ vì mười sử ấy cũng gọi chung một tiếng là tri kiến của chúng sanh đó thôi không có chi khác. Mà tri kiến của chúng sanh thì phải lấy tri kiến của Phật mà đối trị.

Tri kiến của Phật tức là cái tánh linh tri ly niệm hiện tiền của chúng ta. Nhưng tánh linh tri ấy không thể cô lập một mình được mà tất phải tùy duyên ứng khởi. Nếu nó chẳng tùy duyên Phật Giới thì nó sẽ tùy duyên vào chín giới kia mà phát khởi. Vì lìa ngoài mười giới ra thì sẽ không có duyên khởi nào khác nữa.

Mà bây giờ muốn tùy theo duyên khởi Phật Giới, thì không chi bằng lấy cái tâm Tín Nguyện của ta mà trì danh hiệu của Phật. Duy có một điều là tín phải cho sâu, nguyện phải cho thiết và trì danh phải cho chuyên cần mới được.

Quả như ta dùng cái tâm sâu, thiết, chuyên cần ấy mà tín nguyện trì danh tức là ta lấy tri kiến của Phật mà làm tri kiến của ta và cũng tức là ở trong niệm niệm mà ta lấy tri kiến của Phật đối trị với tri kiến của chúng sanh vậy.

Nếu ta đề được một cái tín nguyện trì danh vào trong tam thập sử. Thì tất nhiên ta chuyển được duyên khởi chúng sanh mà làm thành duyên khởi Phật Giới. Đó là điểm sắt biến thành vàng rất mầu nhiệm ở trong pháp môn tu học và không có pháp nào hay hơn pháp này. Nhưng phải đảm đương pháp này một cách cho tận tình.

Đừng để một giây phút ngoại duyên nào xen tạp dính líu. Niệm Phật càng lâu càng thiết tha và mãi tới không lui sụt. Thì ta có thể ngồi đợi đài vàng đến rước. Đó là do nơi Cõi Đồng Cư bên này sanh về Cõi Đồng Cư bên kia mà theo bề ngang ra khỏi Tam Giới. Nếu so sánh với cách ra theo chiều đứng kia thì dễ hơn biết là chừng nào.

Một câu A Di Đà Phật là dược vương thuốc A Di Đà không chứng bệnh gì mà không chửa lành. Đó là hạt châu như ý. Không nguyện vọng nào mà không thỏa mãn. Là chiếc thuyền từ trong biển khổ sanh tử.

Không có cái khổ nào mà chẳng độ được. Và là ngọn đèn huệ trong đêm trường vô minh. Không một bóng tối, âm u nào mà chẳng phá tan. Miễn mình một phen nghe lọt vào tai tức là có duyên hoặc mình một niệm muốn khởi tín tâm tức là tương ứng rồi.

Nếu tín tâm qủa được chân thiệt, thì nguyện tâm chẳng hẹn phát mà tự nhiên cũng đã phát rồi. Ta chỉ đem hai món tín và nguyện ấy để luồng vào tâm. Cũng giống như người dân phụng thỉnh mật chỉ của thánh quân. Và cũng như con thảo theo cái nghiêm mạng của từ phụ. Là một việc cần yếu thứ nhất và nhớ mãi không khi nào dám quên.

Thì dầu ở trong hoàn cảnh thanh danh hay là huyên náo, thong thả hay rộn ràng, niệm nhiều hay niệm ít. Cũng đều làm cho cái chánh nhân Vãng Sanh được cả. Nhưng chỉ sợ cách nhau ở trong cảnh siêng năng và lười biếng đó thôi. Chúng ta từ vô lượng kiếp nhẫn lại đây mãi ở trong vòng lục đạo luân hồi.

Lẽ nào lại không biết phát cái tâm cầu đạo giải thoát và tu cái hạnh hướng đạo hay sao?

Nhưng thiệt ra là tại nơi tánh nhân tuần đày đọa của ta làm cho thất bại, mà phải chịu nỗi thống khổ với cái luật sanh tử từ hồi nào chưa hề ra khỏi.

Vậy mà ngày nay đã nghe được pháp môn trì danh niệm Phật là pháp môn rất giản dị và rất thiết yếu. Mà nếu còn theo dấu xe trước kia đành chịu một bề nghiên úp. Thì thiệt là một hạng người không có huyết tánh chút nào.

Cái nghĩa trì danh niệm Phật là nói: Giữ chắc danh hiệu Phật A Di Đà vào trong tâm ta mà không lúc nào tạm nghĩ. Bằng như trong tâm niệm Phật của ta có gián đoạn hay là xen tạp chút ít cũng đều không phải là nghĩa trì danh niệm Phật. Hãy nối luôn đừng cho xen hở vậy mới gọi là thiệt tinh tấn, mà nếu tinh tấn mãi không thôi thì lần lần đi tới chỗ nhất định tâm bất loạn mà tịnh nghiệp chắc được viên thành.

Đến khi đã đến chỗ nhất tâm bất loạn rồi mà trình độ tinh tấn của ta vẫn cứ lên mãi. Thì sẽ thấy được cái công hiệu mở được trí tuệ, phát được biện tài, chứng được thần thông và thành được niệm Phật Tam Muội cho nên đến bao nhiêu những tướng thoại linh dị cũng đều được hiện tiền tất cả, duy có một điều trước khi được những công hiệu ấy ta không nên dựa để cái tâm hý cầu. Mà ta phải nên ráng sức đi tới chỗ nhất tâm bất loạn đó thôi.

Chẳng hạn tu tập pháp môn gì cũng cần phải rõ được tông chỉ là qúy, thế mà người đời nay chỉ biết vạn pháp duy tâm. Chỉ biết ngoài tâm không có Phật mà không biết ngoài Phật không tâm. Chỉ biết vô lượng làm một mà không biết một làm vô lượng. Và chỉ biết chuyển Sơn Hà Đại Địa về tự kỷ mà chẳng biết chuyển tự kỷ về Sơn Hà Đại Địa.

Nếu chẳng biết tâm duy vạn pháp thì đâu thiệt biết được vạn pháp duy tâm. Nếu chẳng biết ngoài Phật không tâm thì đâu thật biết được ngoài tâm không Phật. Thiệt chẳng khác nào một qủa cầu tròn tách làm hai. Rời ra thì hai, nếu cả hai hiệp lại thì thành một, tất cả cập vậy.

Cho nên người niệm Phật phải lấy duy Phật, duy độ làm tông. Mà nếu cái tông duy Phật, duy độ chẳng rõ thì cái nghĩa chân duy tâm chẳng thành. Còn như thấu tới cái nghĩa chân duy tâm thì cái tông duy Phật, duy độ tự nhiên thành lập.

Sau khi thành được tông ấy rồi thì một Phật sở niệm và độ sở sanh toàn thể đại dung của nó ngang giáp dựng cùng, bao trùm hết thảy. Sở niệm đã thế thì năng niệm cũng vậy.

Đó là lấy cái tâm thiệt tưởng niệm ông Phật thiệt. Tưởng lấy cái Tâm pháp giới niệm ông Phật pháp giới. Niệm niệm tuyệt đãi, niệm niệm viên dung. Vì tuyệt đãi siêu hơn hết thảy các pháp môn khác, không pháp nào sánh kịp. Vì viên dung cho nên thấu triệt hết thảy pháp môn không pháp gì lọt ngoài.

Cho nên một câu A Di Đà Phật phải tin như thế và phải niệm như thế thì mới bất tư nghì ở trong bất tư nghì vậy.

Nguyên lai cái tánh linh tri ly niệm hiện tiền của chúng ta đó, là cái Chư Phật Giới chúng sanh đồng có do một bậc không hai không khác.

Nhưng Chư Phật vì tùy theo nhân duyên thanh tịnh giác ngộ, giác ngộ rồi lại giác ngộ nữa. Thanh tịnh rồi lại thanh tịnh nữa. Cho nên sự giác ngộ thanh tịnh cùng tột thấu đáo. Mà trình độ phát triển của tánh linh tri ngang giáp dựng cùng, rộng lớn không có chi lọt ra ngoài được.

Còn chúng sanh thì bị tùy theo nhân duyên mê muội ô nhiễm. Mê muội rồi lại mê muội nữa. Ô nhiễm rồi lại ô nhiễm nữa. Cho nên tánh linh tri bị cục xúc ở trong Ngũ Uẩn mà thành nhỏ nhen hèn hạ.

Song tánh linh tri nhỏ nhen hèn hạ ấy đối với tánh linh tri rộng lớn của Chư Phật kia. Đương thể không hai không khác.

Nếu mà được tùy theo cái Duyên Giác ngộ thanh tịnh thì nghiệp hết tình không. Tức là tánh linh hèn mọn ấy xoay trở lại làm thành cái tánh linh tri rộng lớn. Cũng như một đốm lửa mà nó có thể đốt cháy muôn khoảng rừng hoang đó vậy.

Trái lại ta cần phải biết linh tri hiện tiền đó, nếu luận theo cái cảnh sở tri của nó thì vẫn có rộng hẹp hơn kém chẳng đồng nhau thật, nhưng nếu luận theo cái trí năng tri của nó thì toàn thể của nó vẫn như giống y không khác. Cũng ví như đồng một thứ lửa mà đốt hương chiên đàn thì thơm, đốt phẩn khô thì thúi.

Lại đồng một thứ nước, mà hoặc có nước đục nước trong. Đồng một thứ gương, mà lại có gương mờ gương tỏ. Nhưng thiệt ra nước tuy có trong có đục mà cái tánh ước của nước không hai. Gương tuy có tỏ có mờ mà cái thể trong sáng của gương như một.

Nếu nước đã đồng một tánh ướt thì nước đục có thể lóng thành trong. Gương đã đồng một thể sáng, thì gương mờ dơ có thể chùi sạch để trở thành sáng tỏ. Cái sáng sạch mà bị mờ dơ là vì dính động bụi nhơ. Mà thứ bụi nhơ ấy gốc chẳng phải sáng của bản thể gương. Còn nước mà bị đục, là vì xen lộn bùn đất ấy. Chất đục chẳng phải tánh ướt. Cái ướt ấy chính là bản tánh của nước.

Thế thì một niệm linh tri đó cũng như tánh ướt vậy. Ví như là tánh sáng của gương và tánh đốt cháy của lửa. Cái thể của nó cũng không khác vậy.

Bởi cái thể của nó không khác cho nên ở trong môn phương tiện tu hành có nhiều cách:

1. Có phái thì chỉ kính ngưỡng hâm mộ nơi các Đức Phật.

2. Có phái thì chỉ tôn trọng nơi tánh linh tri của mình.

3. Có phái thì ngoài ngưỡng mộ các Đức Phật mà còn tôn trọng tánh linh tri của mình nữa.

4. Lại có phái thì ngoài cũng chẳng ngưỡng mộ các Đức Phật mà trong cũng chẳng tôn trọng tánh linh tri của mình.

1. Phái chỉ kính ngưỡng hâm mộ nơi các Đức Phật: Các người tu hành theo phái này là như những người cứ theo bổn phận mà hành, vì biết các Đức Phật kia đều là đấng đã chứng trước cái tánh linh tri của mình. Nào lúc nói, lúc nín, lúc động, lúc tịnh, mỗi mỗi đều có thể làm thành cái khuôn phép để lại cho ta.

Nếu ta không tín ngưỡng hâm mộ các Phật thì quyết không có đường tấn tu, cho nên hằng ngày hoặc chuyên trì danh hiệu, hoặc quán tưởng âm dương, ba nghiệp, tính thành sáu thời lễ niệm.

Nghiêng lòng quy hướng suốt đời, noi theo vẫn kịp đến lúc thời kỳ đã tới, cơ duyên đã mùi, thì cảm ứng đạo giao, tâm địa mở to, linh quang bày tỏ. Khi ấy mới biết rõ cái tánh linh tri của mình có bản gốc không khác gì với các Đức Phật. Vậy thì cái tánh linh tri của mình cũng phải được tôn trọng như vậy.

2. Phái chỉ tôn trọng nơi tánh linh tri của mình: Các người tu hành theo phái này chỉ tôn trọng tánh linh tri của mình.

Là những người Tham Thiền bên Tông Môn với tôn chỉ: Chỉ thẳng tâm người thấy tánh thành Phật. Cho nên chỉ muốn ở mười hai thời và trong bốn oai nghi, lúc nào cũng bày rõ cái bộ mặt bản lai và cũng thọ dụng lấy cái phong quang tốt đẹp nơi bản địa của mình.

Ngoài tâm tánh ra không còn một mảy gì dính mắc. Và kịp cho đến lúc công phu, tháo nghệ đã sâu. Trình độ chứng ngộ đã tột khi ấy mới biết hết thảy các Phật đều là bậc đã chứng trước cái tánh linh hằng lâu, thì càng nên kính ngưỡng hâm mộ.

3. Phái ngoài ngưỡng mộ các Đức Phật mà còn tôn trọng tánh linh tri của mình: Các người tu hành theo phái này luôn thường nêu cao tôn chỉ: Muốn tôn trọng tánh linh của mình thì tất phải ngưỡng mộ các Đức Phật.

Mà ngưỡng mộ các Đức Phật chính là tôn trọng tánh linh của mình. Lại nếu ngưỡng mộ các Đức Phật thì tất nhiên phải tôn trọng tánh linh của mình. Còn nếu chẳng tôn trọng tánh linh của mình thì làm sao có thể ngưỡng mộ các Đức Phật.

Đó là trong ngoài đồng tu, tâm Phật đều trọng và không thiên chấp bên nào. Thì phần tinh tấn đạo càng thêm mau chóng. Đến khi sức tột công thuần, toàn thể tương ưng. Thì biết chắc Phật kia chẳng qua là người đã đi trước chứng được cái tánh linh của mình đó thôi chớ có chi lạ. Còn cái tánh linh của mình thì cũng chẳng qua là cái bình đẳng với Phật đó thôi chớ có chi lạ.

4. Phái ngoài chẳng ngưỡng mộ các Đức Phật mà trong chẳng tôn trọng tánh linh tri của mình:

Các người tu hành theo phái này có tôn chỉ: Tâm và Phật đều quên, không có chỗ nào nương dựa. Ngoài thì lợi cả Thế Giới, trong thì lột hết thân tâm. Một niệm chẳng sanh, muôn duyên đều dứt. Đến lúc ngày lâu công thục. Y vào chỗ chứng nhập sâu thì tánh linh tri tỏ bày đồng như các Phật.

Đó là tuy không ngưỡng mộ các Đức Phật mà ngưỡng mộ một cách rất hay. Và tuy không tôn trọng tánh linh tri mà tôn trọng một cách chân thiệt.

Trong bốn cách tu nói trên đây, thì người học Phật nên tự xét lấy tánh căn của mình ứng tu theo cách nào. Thì chỉ một đường đi tới thì trải qua một thời gian lâu. Công hạnh thuần thục đều chắc có phần tương ứng tất cả.

Quyết chẳng nên sanh lòng vọng chấp. Buột miệng khinh bàn mà quí pháp này chê pháp khác. Hay thì cho pháp nọ phải, dở thì thì cho pháp kia quấy. Thì chẳng những trái với đạo mầu mà tạo thành sự chướng ngại cho phần mình thôi. Lại còn sợ hủy báng chánh pháp mà mang lấy tội lỗi thêm là khác.

Kinh Lăng Nghiêm nói: Chỗ biết của các thánh lần lượt truyền cho lẫn nhau, là chỉ nói cái vọng tưởng không có tánh.

Ngài Nhị tổ nói: Tìm cái tâm không thể được.

Kinh Hoa Nghiêm nói: Nếu sáng tỏ được một niệm duyên khởi, thì siêu việt cách thấy của tâm thừa quyền học.

Sách Khởi Tín Luận nói: Nếu có người quán được cái vô niệm, tức là người xu hướng về Phật trí. Đó là Kinh Phật, lời tạo ra, cũng đều tới nơi một niệm hiện tiền mà chỉ điểm cho chúng ta rõ cái vọng tánh gốc nó vẫn không, chớ chẳng có chi lạ. Nếu vọng đã gốc không, mà chân đã gốc có.

Thì tức là Phật chớ gì?

Nhưng vì chúng sanh bị tùy theo cái duyên ô nhiễm đã bền lâu mà bây giờ chưa có thể đem liền lại được cái tánh bản không đó thôi.

Vậy nên ngày nay phải lấy duyên khởi thanh tịnh mà lần lần lay chuyển nó. Nghĩa là dùng cái nhân tâm tức Phật của ta mà niệm công qủa Phật tức tâm của ta. Thì nhân quả thông suốt lẫn nhau, Tâm và Phật tự nhiên bình đẳng.

Niệm công qủa Phật tức tâm của ta đã là gốc của lòng vô duyên đại từ và đồng thể đại bi không thể nghĩ lường được, không thể bàn được cho nên nó có thể ở trong niệm niệm lắng trong các thứ ô nhiễm, tròn rõ cái tánh ban không mà khế hợp nguồn linh và thẳng tới biển quả. Vậy thì cái duyên thanh tịnh có gì hơn đó nữa.

Nhưng trong lúc niệm cần phải buông hết các duyên chỉ giữ một niệm như cứu lửa cháy đầu, như để tang cha mẹ, như gà ấp trứng, như rồng nuôi châu. Đừng kỳ vọng cái hiệu quả nhỏ nhen và đừng trông mong sự thành tựu mau chóng. Chỉ cứ nhất tâm thường niệm như vậy. Thì tự nhiên thân căn khí giới tùy theo tâm niệm chuyển biến trong chỗ ngầm kín. Không phải chỗ lòng phàm mắt thịt thấy được biết được.

Đến khi báo mạng hết rồi, thì Đức Phật A Di Đà cùng các Thánh Chúng hiện thân trước mặt hay hiện hóa mùi thơm lạ, hiện tiếng nhạc Trời, cho đến hết thảy các tướng linh thoại ứng hiện. Người đời thấy vậy mới gọi là tịnh nghiệp thành tựu. Nhưng thật ra thành tựu tịnh nghiệp đã lâu rồi chứ đâu phải là lúc ấy, lúc này.

Lại niệm Phật phải sanh bốn thứ tâm:

1. Ta từ vô thủy nhẫn lại đây, cứ tạo nghiệp mãi mãi đến thế, nên phải sanh lòng hổ thẹn.

2. Ta được nghe pháp môn niệm Phật này, nên phải sinh lòng vui mừng.

3. Vì nghiệp chướng che lấp ta từ hồi vô thỉ mà thành pháp môn niệm Phật khó nổi gặp được nên phải sanh lòng buồn đau.

4. Nghĩ Phật hết sức từ bi như vậy nên phải sanh lòng cảm thích.

Nếu trong bốn thứ tâm ấy mà có được một thì tịnh nghiệp chắc thành tựu ngay.

Lại niệm Phật phải cho lâu dài, chẳng nên gián đoạn nếu gián đoạn thì tịnh nghiệp càng khó nổi thành, nhưng lâu dài lại phải cho dõng mãnh, chẳng nên giải đãi. Nếu giải đãi thì tịnh nghiệp cũng không chắc được. Vì lâu dài mà chẳng dõng mãnh tức là phải lui, còn dũng mãnh mà chẳng lâu dài tức là khó tới.

Chúng ta cần phải biết: Đương lúc niệm Phật chẳng nên có cái tưởng gì khác tức là chỉ. Lại trong lúc niệm Phật phải cho lâu lâu phân minh tức là quán. Ấy là trong một niệm chỉ quán gồm đủ. Và chẳng có pháp chỉ quán nào riêng cả.

Chỉ tức là cái nhân của định. Định tức là cái qủa của chỉ. Quán tức là cái nhân của huệ. Huệ tức là cái quả của quán. Hễ một niệm chẳng sanh mà lâu lâu phân minh, tức là tịch mà chiếu. Còn mà lâu lâu phân minh mà một niệm chẳng sanh tức là chiếu mà tịch.

Nếu được như vậy, thì tịnh nghiệp chắc chắn thành công với quả bậc Thượng Phẩm. Từ một người nhẫn đến trăm ngàn muôn ức người đều tu như vậy thì đều thành tựu như vậy cả, quyết không sai chạy chút nào.

Thế nên người niệm Phật cần phải biết rõ.

***